vanban.org

Bản án 99/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tạ Đạo U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo: Tạ Đạo U 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tạ Đạo U. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Đạo U - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Đạo U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2026/HSST
Ngày: 24/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương

Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Đức và bà Nguyễn Thị Điệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thu Thùy Dung - Thư ký TAND khu vực 6 - Ninh Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình: Ông Lương Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2026/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Tạ Đạo U, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn V, xã Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Xuân T và bà Phùng Thị G đều đã chết; vợ: Đào Thị T1; có 02 con (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1993); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03/12/2025, chuyển tạm giam ngày 12/12/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh N (có mặt). Bị hại: Bà Lê Thị M, sinh năm 1955 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Ngô Thể Q, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (1) Bà Đào Thị T1; sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn V, xã Ứ, thành phố Hà Nội (có mặt). (2) Anh Nguyễn Cơ T2, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã Ứ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/12/2025, Tạ Đạo U, sinh năm 1967, trú tại: Thôn V, xã Ứ, thành phố Hà Nội (có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 29Y3- 111.00 đi từ bãi gửi xe của Công ty N (một chi nhánh của Công ty H) để về nhà. Khi U điều khiển xe mô tô đến gần đoạn đường N giao với ngõ D N bên phải theo hướng di chuyển của U và là đoạn nhập của 02 làn đường Nguyễn Văn L có cụm vạch sơn giảm tốc màu vàng, với tốc độ khoảng 50km/h, không giảm tốc độ. Do tập trung quan sát về phía bên phải theo hướng di chuyển là khu vực ngõ D N để xem có phương tiện nào đi ra không nên U không chú ý quan sát phía trước. Khi hướng quan sát về phía trước theo hướng di chuyển thì phát hiện bà Lê Thị M, sinh năm 1955, ở TDP T, phường Đ, tỉnh Ninh Bình đang dắt bộ xe đạp đi ngang đường hướng từ phải sang trái, vuông góc với chiều di chuyển trên đường N theo hướng di chuyển của U. Lúc này, khoảng cách quá gần Uẩn không làm chủ được tốc độ, không kịp xử lý nên bánh xe mô tô phía trước của U va chạm với phần càng phía sau gần trục bánh sau xe đạp của bà M đang dắt qua đường làm bà M và xe đạp bị ngã và đổ ra đường. Xe mô tô do U điều khiển cũng bị đổ nghiêng trái xuống đường. Sau va chạm, U không bị thương tích nên bế bà M vào vỉa hè và ra vị trí tai nạn dắt xe mô tô của mình vào gần vỉa hè chỗ bà M nằm. Do sợ trách nhiệm nên U đã lên xe mô tô nổ máy điều khiển rời khỏi hiện trường đi về nhà. Hậu quả bà M bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ - Đ và Bệnh viện H1 đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày thì tử vong. Ngày 03/12/2025, khi được Cơ quan cảnh sát điều tra đến nhà thông báo và triệu tập để làm việc, Tạ Đạo U đã viết đơn đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Tạ Đạo U, kết quả âm tính. Về nồng độ cồn, Tạ Đạo U đã khai ngày 01/12/2025 khi ở Công ty về gây tai nạn trước đó không sử dụng rượu, bia hay các chất kích thích nào khác nên không có căn cứ xác định khi điều khiển phương tiện gây tai nạn ngày 01/12/2025 trong máu hoặc hơi thở của Tạ Đạo U có nồng độ cồn.

* Về vật chứng, tài sản tạm giữ, thu giữ gồm: (1) 01 xe đạp màu đỏ đen, đã qua sử dụng. (2) 01 mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu có kính chắn gió; (3) 01 bộ quần áo bảo hộ lao động màu trắng; (4) 01 đôi giầy loại bảo hộ lao động màu đen; (5) 01 áo khoác loại áo khoác gió màu đen; (6) 01 xe mô tô màu trắng, biển số 29Y3 - 111.00; (7) 02 đoạn Video được trích xuất từ 02 camera an ninh ghi lại hình ảnh vụ tai nạn được lưu vào 01 đĩa DVD niêm phong trong phong bì dán kín.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông trên đường N chiều đường đi hướng KCN Đ - QL38 thuộc TDP N, phường Đ, tỉnh Ninh Bình. Mặt đường trải nhựa thẳng, phẳng. Là đường đôi có đặt dải phân cách cứng ở giữa tim đường để phân chia thành hai chiều đường xe đi riêng biệt. Mặt đường hướng KCN Đ - QL38 rộng 11 mét. Khu vực hiện trường, dải phân cách cứng giữa tim đường mở ra một khoảng rộng 110 mét. Bên phải chiều đường đi hướng KCN Đ - QL38 giao nhau với đường dẫn vào ngõ D N. Nơi giao nhau với đường dẫn vào ngõ D, mép đường nhựa bên phải chiều đi KCN Đ - QL38 mở ra 9,5 mét.

Trên mặt đường chiều đường đi KCN Đ - QL38 nơi dải phân cách cứng giữa tim đường mở ra có 02 cụm vạch sơn giảm tốc cách nhau 15,10 mét. Đường không có hệ thống chiếu sáng. Tại hiện trường thu được 04 dấu vết đánh số từ 1 đến 4. Vết cầy ký hiệu 1 có kích thước (2,80 x 0,01)m có hướng khu công nghiệp Đ - Quốc lộ C. Đo từ mép gần nhất đầu dấu vết 1 vào mép đường nhựa bên phải chiều đường đi hướng khu công nghiệp Đ- Quốc lộ C là 6,90m. Đo từ mép gần nhất cuối dấu vết 1 vào mép đường nhựa bên phải chiều đi hướng khu công nghiệp Đ - Quốc lộ C là 6,53m, đo từ cuối chiều dấu vết 1 về phía Quốc lộ C theo chiều vuông góc trùng với đầu dấu vết cầy ký hiệu là 2. Dấu vết 2 kích thước (0,50 x 0,10)m có hướng khu công nghiệp Đ II quốc lộ 38. Đo từ mép gần nhất đầu dấu vết 2 và mép đường nhựa bên phải chiều đường đi khu công nghiệp Đ - Quốc lộ C là 6,85m, đầu từ mép gần nhất cuối dấu vết 2 vào mép đường nhựa bên phải chiều đường đi khu Đ II là 6,87m. Đo từ đầu dấu vết 2 về phía Quốc lộ C theo chiều vuông góc 0,4m là điểm tâm khu vực máu ký hiệu là 3. Dấu vết có kích thước (0,10 x 0,10)m, đo từ tâm khu vực 3 vào mép đường nhựa bên phải theo chiều đường đi hướng khu công nghiệp Đ - Quốc lộ C là 7,50m đo từ tâm khu vực 3 về phía Quốc lộ C theo chiều vuông góc 5,1m là đến tâm trục bánh sau của xe đạp ký hiệu 4, xe đạp 4 dựng đứng trên mặt đường bằng chân trống bên trái, đầu xe quay về phía mép đường bên phải chiều đường đi khu công nghiệp Đ II về phía Quốc lộ C, đuôi xe quay về phía đường chếch về phía khu công nghiệp Đ, đo từ tâm trục bánh trước vào mép đường nhựa bên phải chiều đường đi khu công nghiệp Đ - Quốc lộ C là 0,70m, đo từ tâm trục bánh sau vào mép đường nhựa bên phải chiều đường đi gần khu công nghiệp Đ - Quốc lộ C là 1,45m.

* Kết quả khám nghiệm xe đạp màu đỏ, đen:

Toàn bộ xe phủ bụi đều có nhiều vết xước sơn, mài sạt đã cũ, tay lái bị lệch từ trái sang phải, tay nắm bên trái cách ốc định vị bánh sau xe bên trái 110cm, tay nắm bên phải cách ốc định vị bánh sau bên phải 100cm. Mặt ngoài bàn đạp bên phải có vết trượt mài sạt KT (3x2,5)cm không rõ chiều hướng; Mặt ngoài dưới ốp chắn xích có vết nứt vỡ nhựa, mài sạt KT (14x3,5)cm hướng từ trước về sau; Cạnh ngoài phía sau yên xe bên trái có vết trượt mài sạt KT (6x3,5)cm hướng từ trước về sau; Bàn để chân phía sau bên trái bị gập theo hướng từ trên xuống dưới. Cạnh trên, trước, ngoài bàn để chân này có vết trượt, mài sạt nhựa KT (7x3)cm hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách mặt đất 25cm, khung kim loại phần bắt giữ để chân này và khung xe phía trong có vết trượt, bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su, lõm kim loại bong tróc sơn trên diện 4x4,5cm, hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, mặt ngoài dưới thanh kim loại nối trục bánh sau và đầu yên bên trái có vết trượt bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su KT (5,5x1,5)cm hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách mặt đất 35cm.

* Kết quả khám nghiệm xe mô tô màu trắng, biển số 29Y3 - 111.00:

Toàn bộ xe bụi đất phủ, đều có nhiều vết mài sát, xước sơn han rỉ kim loại đã cũ. Mặt trước óp gương chiếu hậu bên trái có vết trượt mài sạt, KT (01x01)cm hướng từ trước về sau. Mặt trước ốp nhựa đầu xe bên trái cạnh đèn chiếu sáng có vết nứt, vỡ nhựa, KT (2,2x2)cm. Mặt nạ đầu xe có vết nứt vỡ nhựa nõm, KT (9,5x5)cm, hướng từ trước về sau, cạnh trước trên cánh yếm chắn gió bên trái có vết nứt vỡ nhựa bung bật các chốt định vị, KT (17x15)cm. Cạnh dưới ngoài ốc định vị bánh trước bên trái có vết trượt, mài sạt bề mặt bám dính bột đá, KT (1,3x0,5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 25cm. Đầu gù tay nắm bên trái chuyển động tự do, mặt trước ngoài có vết trượt, mài sạt kim loại, KT (3x1,3)cm điểm thấp nhất cách mặt đất 27cm, nửa mặt lăn và má lốp bên trái có vết trượt, mài sạt cao su trên toàn bộ cung lốp, chỗ rộng nhất 3,7cm hướng từ mặt lăn vào tâm trục. Mặt dưới ngoài bàn để chân phía trước bên trái có vết trượt, mài sạt cao su, KT (3x2,5)cm hướng từ dưới lên trên, từ trước về sau. Mặt ngoài bên trái tay xách nâng xe có vết trượt mài sạt cao su KT (9x21)cm hướng từ trên xuống dưới. Mặt ngoài dây phanh bánh trước bên trái có vết trượt mài sạt bụi KT (13x0,6)cm hướng từ trước về sau. Xe, hệ thống còi, đèn, phanh hoạt động bình thường.

* Kết quả khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định tử thi bà Lê Thị M:

Tại bản kết luận giám định tử thi số 2126/KLGĐTT-KTHS ngày 10/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: Nguyên nhân chết của bà Lê Thị M: Chấn thương sọ não nặng (Vỡ xương sọ, tụ máu dưới màng cứng, dập não, tụ máu não thất).

Cáo trạng số 23/CT-VKS-KV6 ngày 03/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố bị cáo Tạ Đạo U về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát rút một phần quan điểm truy tố quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Tạ Đạo U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Tạ Đạo U từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai và ý kiến của họ. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Quan điểm của Kiểm sát viên và bị cáo đề nghị tiếp tục xét xử . Do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định chung.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung của bản kết luận điều tra, cáo trạng truy tố phù hợp với lời khai của người làm chứng và biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/12/2025, Tạ Đạo U có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 29Y3 - 111.00 đi đến đoạn đường giao nhau giữa đường N với ngõ D N thuộc tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh Ninh Bình, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn tại nơi có vạch kẻ đường người đi bộ đang qua đường, làm phần bánh trước xe mô tô do U điều khiển đâm vào khu gần trục bánh sau xe đạp do bà Lê Thị M đang dắt bộ đi qua đường, làm bà M và xe đạp bị ngã đổ ra đường. Sau khi xảy ra va chạm, U đã điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm. Hậu quả: Bà Lê Thị M bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong cùng ngày. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Hành vi của bị cáo Tạ Đạo U đã vi phạm quy định tại khoản 26 Điều 9, điểm a khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; trốn trách trách nhiệm, bỏ mặc hậu quả, dẫn đến bà Lê Thị M bị chết. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Như Cáo trạng số 23/CT-VKS-KV6 ngày 03/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố bị cáo Tạ Đạo U là đúng người đúng tội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội; thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường xong cho gia đình người bị hại với số tiền 140.000.000đ; được người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo U được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự;

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, Hội đồng xét xử căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ để ấn định mức hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã rút một phần cáo trạng truy tố đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự. Thấy rằng, bị cáo không hành nghề hay làm công việc liên quan đến việc lái xe nên Viện kiểm sát rút một phần cáo trạng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại và gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận về tiền bồi thường. Người đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền 140.000.000đ và không đề nghị giải quyết thêm về bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe đạp màu đỏ đen, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị M, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Ngô Thể Q, sinh năm 1980 ở TDP T, phường Đ, tỉnh Ninh Bình là con trai của bà M, người được gia đình ủy quyền là đúng quy định.

Đối với chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 29Y3- 111.00, do bị cáo điều khiển gây tai nạn nhưng xe không có giấy tờ hợp pháp, không có số khung, số máy, trên lốc máy không ghi hãng, không biết năm sản xuất, là phương tiện bị cấm lưu hành, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 mũ bảo hiểm; 01 bộ quần áo bảo hộ lao động; 01 đôi giầy; 01 áo khoác thu giữ của bị cáo Tạ Đạo U nhưng bị cáo không nhận lại vì không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án đối với 02 đoạn video lưu vào đĩa DVD niêm phong đánh số bút lục.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

[ 8] Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1.

1. Tuyên bố bị cáo Tạ Đạo U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt bị cáo: Tạ Đạo U 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2025.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tạ Đạo U.

4. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 xe mô tô đã cũ, gắn BKS 29Y3-111.00; màu trắng; xe không có số khung, số máy, trên lốc máy không ghi hãng, không biết năm sản xuất.

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 mũ bảo hiểm đã cũ; 01 bộ quần áo bảo hộ lao động màu trắng; 01 đôi giầy bảo hộ lao động màu đen; 01 áo khoác màu đen.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình ngày 24/4/2026).

Tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án đối với 02 đoạn video lưu vào đĩa DVD niêm phong.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Tạ Đạo U phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ