vanban.org

Bản án 99/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 06 (sáu) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2026/HSST
Ngày 27/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ninh.

Ông Trần Xuân Viện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2026/TLST- HS, ngày 28 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS, ngày 26/02/2026 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 30/10/1968 tại Thái Nguyên.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; nơi cư trú: Xóm X, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, chính quyền): Không; con ông Nguyễn Tấn H1 (đã chết); con bà Dương Thị H2 (đã chết); có vợ: Vũ Thị H3, sinh năm 1972; có 03 con chung; con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1997.

- Tiền án: Tại Bản án số 161/2021/HS-ST ngày 02/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Thi hành xong án phí ngày 30/3/2022. Chấp hành xong án phạt tù ngày 06/02/2024.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án số 12/HS-ST ngày 13/3/1997 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 12 tháng tù về tội "Tổ chức dùng chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự năm 1985, phạt 200.000đ sung công quỹ nhà nước. Ngày 09/12/1997 đã chấp hành xong án phạt tù. Thi hành xong án phí ngày 05/6/2003, nộp tiền phạt xong ngày 22/9/2004.

+ Tại Bản án số 50 ngày 15/4/1999 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại điểm b khoản 2 Điều 185i Bộ luật hình sự năm 1985, phạt 20.000.000 đồng sung quỹ nhà nước, phạt quản chế 03 năm sau khi mãn hạn tù Tại Bản án số 1536 ngày 26/3/1999 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định bác kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm. Được đặc xá ngày 30/8/2005. Thi hành xong án phí ngày 31/3/2009, Ngày 01/9/2009, Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 20/QĐ-THA đinh chỉ miễn thi hành án, miễn thi hành khoản tiền phạt 20.000.000 đồng cho Nguyễn Văn H.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1972 (có mặt);

Địa chỉ: Xóm X, xã T, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1981 (có mặt);

Địa chỉ: Xóm X, xã T, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Công S, sinh năm 1975 (vắng mặt);

Địa chỉ: Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Hà Như S1, sinh năm 1975 (vắng mặt);

Địa chỉ: Xóm X, xã T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 15/8/2025, Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường bê tông xóm Đ, xã T, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen đỏ, gắn biển kiểm soát: 20AF-091.65 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Người đàn ông khai tên là Nguyễn Văn H và tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 gói giấy có in chữ, bên trong chứa 02 gói giấy bạc màu vàng; Bên trong mỗi gói giấy bạc màu vàng đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai là ma tuý Heroine H4 vừa mua được của Trần Văn P để sử dụng cho bản thân H4. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H4 và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của H4 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen đỏ, BKS 20AF-091.65; 01 bật lửa in chữ “BẬT LỬA AN TOÀN THỐNG NHẤT ...Khởi nguồn may mắn”, cũ, đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra nhanh chất ma tuý trong nước tiểu của Nguyễn Văn H, kết quả dương tính ma tuý loại Morphine (là chất chuyển hoá chính của H5. Đồng thời thu mẫu nước tiểu niêm phong gửi giám định.

Tại Kết luận giám định độc chất số 90/KLGĐĐC-TTPY ngày 21/8/2025 của Trung tâm P1, kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn H gửi giám định: Có tìm thấy M.

Hồi 21 giờ 45 ngày 15/8/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Trần Văn P tại xóm X, xã T, tỉnh Thái Nguyên, kết quả thu giữ các vật chứng sau:

- 07 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dụng cục màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine (gồm 03 gói màu trắng, 04 gói màu vàng đựng trong hộp nhựa, hình trụ tròn màu xanh để trong túi áo bên mạn sườn phải của P), được niêm phong trong phong bì kỳ hiệu B1.

- 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng nghi là ma tuý, loại Heroine (để trong hộp nhựa hình trụ tròn màu vàng, trắng, xanh ở trên bàn gỗ kở cạnh giường ngủ của P), được niêm phong trong phong bì ký hiệu B2.

- 01 túi nilon bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine (để trên tủ nhôm kính đặt trên mặt bàn gỗ, kê cạnh giường ngủ của P), được niêm phong trong phong bì ký hiệu B3.

- 11 mảnh giấy bạc, 01 kéo kim loại, 01 dao lam bằng kim loại, được niêm phong lần lượt trong phong bì ký hiệu B4, B5, B6.

- Số tiền 95.000 đồng gồm 04 tờ mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ trên mặt bàn gỗ kê cạnh giường ngủ của P, được niêm phong trong phong bì kỳ hiệu B7.

- Số tiền 2.100.000 đồng (hai triệu một một trăm nghìn đồng), gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng được thu trong ngân lên bàn gỗ kê cạnh cạnh giường ngủ của P, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B8.

Hồi 01 giờ 00 phút ngày 16/8/2025, tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng đối với số vật chứng thu giữ được, kết quả:

- Số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,376 gam, niêm phong vào bì ký hiệu A1 gửi giám định.

- Số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Trần Văn P: Bì niêm phong B1 có khối lượng 0,497 gam; Bì niêm phong B2 có khối lượng 0,075 gam; bì niêm phong B3 có khối lượng 0,854 gam, niêm phong lần lượt vào các bì ký hiệu C1, C2, C3 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 24/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu lần lượt là 0,376 gam, 0,479 gam, 0,075 gam, 0,854 gam.

Xác minh tại Cơ sở Điều trị Methadol số A phường T, tỉnh Thái Nguyên, thấy: Ngày 30/9/2024, H có đăng ký điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và được Cơ sở tiếp nhận điều trị từ ngày 01/10/2024. H vẫn điều trị liên tục đến ngày 15/8/2025 thì ngày 16/8/2025 H không đến điều trị nữa, không có đơn xin nghỉ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H và Trần Văn P khai nhận:

P là người bị mắc bệnh ung thư phổi nên thường xuyên sử dụng ma túy Heroine để giảm đau. Ngoài ra, Phòng còn bán ma túy cho những người nghiện khác để kiếm lời. P thường mua khoảng 700.000đ – 800.000đ ma túy của một người tên là V ở khu vực Sông C, tỉnh Thái Nguyên rồi về chia nhỏ ra để bán.

H là đối tượng nghiện ma tuý lâu năm, đang tham gia điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadol nhưng vẫn tiếp tục mua ma tuý để sử dụng. Khoảng hơn 14 giờ ngày 13/8/2025, H đến nhà Trần Văn P mua của P một gói ma tuý Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, H điều khiển xe đến khu vực nghĩa trang X và sử dụng hết bằng hình thức hít vào cơ thể. Hồi 14 giờ ngày 15/8/2025, khi P đang ở nhà thì H tiếp tục đến nhà của P và mua được của P 02 gói ma tuý được gói trong giấy bạc màu vàng với giá 200.000đ. Mua xong, H cất gói ma tuý vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen đỏ, gắn biển kiểm soát: 20AF-091.65 đi tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác công an xã T bắt quả tang như nêu trên.

Lời khai của H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, dữ liệu camera thu được, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì thư niêm phong ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,357 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.

- 01 bì thư ký hiệu A2, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu A và vỏ gói.

- 11 mảnh giấy bạc, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B4.

- 01 kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B5.

- 01 dao lam bằng kim loại, được niêm phong trong bì thư ký hiệu B6.

- 01 bì thư niêm phong ký hiệu C1, bên trong có chứa 0,464 gam mẫu C1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C1.

- 01 bì thư niêm phong ký hiệu C2, bên trong có chứa 0,066 gam mẫu C2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C2.

- 01 bì thư niêm phong ký hiệu C3, bên trong có chứa 0,841 gam mẫu C3 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C3.

- 01 bì thư ký hiệu H1, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B1, vỏ gói và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu xanh.

- 01 bì thư ký hiệu H2, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B2, vỏ gói và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu vàng, trắng, xanh.

- 01 bì thư ký hiệu H3, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B2 và vỏ túi.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411, có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H.

- 01 bật lửa gas màu cam, đen, bạc, trên thân có in chữ "BẬT LỬA AN TOÀN THỐNG NHẤT ...Khởi nguồn may mắn" , cũ, đã qua sử dụng.

- Số tiền 2.195.000 đồng.

Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng và Tài khoản của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-KV1, ngày 27/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo và đối tượng Trần Văn P còn lại sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói; 01 bật lửa gas màu cam, đen, bạc,; 01 kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, 01 dao lam bằng kim loại thu giữ của bị cáo và Trần Văn P không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411, có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H. Tại phiên tòa, bà Vũ Thị H3 là vợ của bị cáo xác định đó là tài sản chung của vợ chồng bà và bị cáo H, đề nghị được xin lại chiếc xe để quản lý. Đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe mô tô trên cho và H3 quản lý, sử dụng.

- Đối với số tiền 2.195.000 đồng thu giữ của Trần Văn P. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị C là vợ P khai có liên quan đến ma túy, nếu các cơ quan tố tụng tịch thu sung công quỹ thì bà cũng nhất trí, không có ý kiến gì nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người đúng tội, không oan, không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Vũ Thị H3 và bà Nguyễn Thị C không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để xác định: Ngày 13/8/2025, tại khu vực nghĩa trang X, xã T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn H là đối tượng đang được điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadol số 1 phường T, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine bằng hình thức hít vào cơ thể. Tại kết quả test nhanh ma túy đối với H ngày 15/8/2025 và Kết luận giám định số 90/KLGĐĐC-TTPY ngày 21/8/2025 kết luận H dương tính với ma túy.

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/8/2025, H có hành vi tàng trữ 0,376 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, khi H đang tìm nơi để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nội dung các điều luật quy định như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm;

…

c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 02 đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, giết người... Bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy khi biết mình đang trong thời hạn điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone. Việc đưa Nguyễn Văn H ra truy tố và xét xử về 02 tội trên là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có 01 tiền án năm 2021 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo có nhân thân rất xấu: các năm 1997, 1999 bị xét xử đều về các tội “Tổ chức dùng chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để giúp bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình thành người có ích cho xã hội.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của Trần Văn P. Đến nay, P đã chết, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đình chỉ điều tra đối với Trần Văn P là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của Trần Văn P, P khai mua của một người đàn ông tên là V ở khu vực phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (cũ). Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không có cơ sở để làm rõ.

Vật chứng vụ án:

- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo và đối tượng Trần Văn P còn lại sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói; 01 kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, 01 dao lam bằng kim loại và 01 bật lửa gas màu cam, đen, bạc, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411, có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Bà Vũ Thị H3 là vợ của bị cáo không biết bị cáo dùng vào việc đi mua ma túy và tại phiên tòa có ý kiến xin lại xe, nên xét thấy cần trả cho bà H3 quản lý, sử dụng là phù hợp.

- Đối với số tiền 2.195.000 đồng thu giữ của Trần Văn P là số tiền không rõ nguồn gốc, bà Nguyễn Thị C khai có liên quan đến ma túy và không yêu cầu gì, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025); Điều 106; Điều 136; Điều 299, Điều 329; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi năm ngày) để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,357 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.

- 01(một) bì thư ký hiệu A2, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu A và vỏ gói.

- 11 (mười một) mảnh giấy bạc, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B4.

- 01 (một) kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B5.

- 01 (một) dao lam bằng kim loại, được niêm phong trong bì thư ký hiệu B6.

- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu C1, bên trong có chứa 0,464 gam mẫu C1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C1.

- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu C2, bên trong có chứa 0,066 gam mẫu C2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C2.

- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu C3, bên trong có chứa 0,841 gam mẫu C3 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C3.

- 01 (một) bì thư ký hiệu H1, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B1, vỏ gói và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu xanh.

- 01 (một) bì thư ký hiệu H2, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B2, vỏ gói và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu vàng, trắng, xanh.

- 01 (một) bì thư ký hiệu H3, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B2 và vỏ túi.

- 01 (một) bật lửa gas màu cam, đen, bạc, trên thân có in chữ "BẬT LỬA AN TOÀN THỐNG NHẤT ...Khởi nguồn may mắn" , cũ, đã qua sử dụng

2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.195.000 đồng (Hai triệu một trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

2.3. Trả lại cho bà Vũ Thị H3 quản lý, sử dụng: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: JA393 WAVE, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411, có số máy là JA70E-0757664, đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận số 144 ngày 23/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên; Ủy nhiệm chi số chứng từ 55 ngày 13/3/2026 số tiền 2.195.000 đồng (Hai triệu một trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ