- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị T - Chứa mại dâm - chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị T – 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2026/HS-ST Ngày: 19/6/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Thu;
+ Ông Nguyễn Lương Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngụy Ái Linh, Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Võ Thị Thuý – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng
Nai tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý
số: 67/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 91/2026/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:
+ Đặng Thị T – sinh ngày 10/11/1966 tại tỉnh T2
Nơi thường trú: phường M, tỉnh T2
Nơi ở hiện nay: ấp B, xã X, Thành phố Đ
Số Căn cước công dân: 07xxxxxxx
Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: không Cha: Đặng Văn A (đã chết);
Mẹ: Ma Thị M, sinh năm 1942;
Chồng: không có;
Con: có 01 con sinh năm 1988.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 16/01/2026 và giam cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã X, thành phố Đ
3. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã X, thành phố Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị T và Phạm Thị M1 có quen biết nhau ngoài xã hội. Vào khoảng đầu tháng 12/2025, Đặng Thị T thuê mặt bằng để mở quán cà phê tại ấp B, xã X, tỉnh Đồng Nai với giá 3.000.000 đồng/tháng. Đến khoảng giữa tháng 12/2025, T dọn đến sinh sống, mở quán cà phê “Cây Dừa” và rủ M1 đến ở cùng, phụ giúp Tuyết bán cà phê. Sau đó, M1 dọn đến ở cùng T, M1 và T thỏa thuận sẽ cho M1 ở, ăn uống 03 tháng đầu, sau đó M1 sẽ hỗ trợ cho T 1.000.000 đồng/tháng. Đến khoảng đầu tháng 01/2026, do quán vắng khách và thấy nhiều khách mỗi lần đến uống cà phê đều có nhu cầu mua dâm nên T và M1 thống nhất sẽ bán dâm tại quán để có thêm thu nhập, cụ thể: T và M1 thỏa thuận nếu khách mua dâm với ai thì vào phòng ngủ của người đó thực hiện mua bán dâm; Số tiền mỗi lần thực hiện hành vi bán dâm là từ 350.000 đồng - 400.000 đồng, nếu T trực tiếp bán dâm thì T nhận hết tiền, còn M1 bán dâm thì phải đưa cho T 50.000 đồng/lần để phụ tiền thuê nhà và ăn uống hằng ngày. Trường hợp khách có nhu cầu mua dâm nhưng không chọn T thì T sẽ gọi cho M1 để bán dâm.
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16/01/2026, khi T đang ở quán “C”, Nguyễn Đức T1 đến quán uống nước, khi T đem nước ra thì T1 nói với T có nhu cầu mua dâm. T cho biết bản thân có bán dâm nhưng T1 không đồng ý do T đã lớn tuổi. Do lúc này, T không có ở quán nên T đã dùng điện thoại Vivo Y21, màu xanh và có gắn sim số 0399647780 gọi qua ứng dụng Zalo cho M1 để báo cho M1 biết có khách mua dâm. Trong lúc chờ M1 về, T thỏa thuận với T1 giá tiền mua dâm tại quán là 350.000 đồng/lần, thì T1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, M1 về quán tiếp tục thỏa thuận với T1 giá tiền mua dâm tại quán là 350.000 đồng/lần, thì T1 đồng ý. Sau đó, M1 và T1 vào phòng ngủ của M1 tại quán “Cây Dừa” để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi M1 và T1 đang có hành vi quan hệ tình dục tại phòng ngủ của M1 thì bị Công an xã X kiểm tra, bắt quả tang.
* Vật chứng và xử lý vật chứng:
- 01 (một) nệm và ga nệm màu xanh, kích thước 2m x 1,8 m; 01 (một) gối màu xanh, kích thước 30 cm x 50 cm; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng bên trong có chứa chất nhầy màu trắng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy A25 5G, màu xanh gắn sim số 0706657393 thu giữ của Phạm Thị M1. Quá trình điều tra xác định, đây là phương tiện M1 sử dụng liên lạc với Đặng Thị T để thực hiện hành vi bán dâm, nhưng hành vi của M1 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho Phạm Thị M1.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu xanh gắn sim số 0399647780 thu giữ của Đặng Thị T .
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Đặng Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
* Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSDNI - KV ngày 04/5/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 điều 327 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 điều 327 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp nên ít nhiều hạn chế nhận thức.
- Về mức hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo T với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: không.
- Về xử lý vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nệm và ga nệm màu xanh, kích thước 2m x 1,8 m; 01 (một) gối màu xanh, kích thước 30 cm x 50 cm; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng bên trong có chứa chất nhầy màu trắng; 01 (một) sim số 0399647780.
- Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu xanh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Toà án tiến hành công bố lời khai.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 19 giờ 20 ngày 16/01/2026, qua kiểm tra Công an xã X bắt quả tang tại quán C thuộc ấp B, xã X, tỉnh Đồng Nai; Đặng Thị T đã có hành vi sử dụng nhà ở do mình thuê để Phạm Thị M1 và Nguyễn Đức T1 thực hiện hành mua bán dâm nhằm thu lợi bất chính. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội: “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 điều 327 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo yết nhận thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội phát sinh, làm băng hoại và suy đồi về mặt đạo đức. Bị cáo ý thức được hành vi của bản thân là sai trái, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì muốn có tiền nên bị cáo đã dấn thân vào con đường phạm tội. Để xử lý hành vi phạm tội của bị cáo, xét cần phải áp dụng loại hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự; bị cáo là nữ, trình độ học vấn thấp nên ít nhiều hạn chế nhận thức. Do đó Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc các tình tiết này khi lượng hình đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo T không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) nệm và ga nệm màu xanh, kích thước 2m x 1,8 m; 01 (một) gối màu xanh, kích thước 30 cm x 50 cm; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng bên trong có chứa chất nhầy màu trắng; 01 (một) sim số 0399647780: xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu xanh mà bị cáo T dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; đảm bảo quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, khung điều luật áp dụng, loại hình phạt áp dụng và cách xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự. * Tuyên bố: bị cáo Đặng Thị T phạm tội: “Chứa mại dâm”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị T – 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2026.
- Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) nệm và ga nệm màu xanh, kích thước 2m x 1,8 m; 01 (một) gối màu xanh, kích thước 30 cm x 50 cm; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng bên trong có chứa chất nhầy màu trắng; 01 (một) sim số 0399647780.
+ Tuyên tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu xanh.
Hiện các tang vật do Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Đồng Nai đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/5/2026.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND. T. Đồng Nai; - VKSND T. Đồng Nai; - Phòng HSNV Công an T. Đồng Nai; - VKSND KV 6 – Đồng Nai; - Phòng THADS KV 6 – Đồng Nai; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tùng |