- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "trần thái T - lý thị V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thái T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2026/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2026 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Quốc Vinh.
- Ông Đinh Văn Sự.
- Thư ký phiên tòa: bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Ngày 10 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 370/2025/TLST – HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 128/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thái T, sinh ngày 09/6/1988.
Địa chỉ: Khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Lý Thị V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu V, phường V, Thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 28/07/2025, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Trần Thái T trình bày: Ông Trần Thái T và bà Lý Thị V cưới nhau vào năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/07/2014, số giấy chứng nhận kết hôn: 44 quyển số 01. Trong quá trình sống chung với nhau ông Trần Thái T và bà Lý Thị V có 01 người con chung tên: Trần Khánh P, sinh ngày 20/01/2011 hiện đang sinh sống cùng với ông Trần Thái T.
Nhận thấy trong thời gian chung sống với nhau giữa ông Trần Thái T và bà Lý Thị V phát sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và sống ly thân. Ông Trần Thái T xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bà Lý Thị V.
Về con chung: Ông Trần Thái T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên: Trần Khánh P, sinh ngày 20/01/2011 đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà Lý Thị V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn bà Lý Thị V: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bà Lý Thị V theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà Lý Thị V không liên lạc với Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Toà án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không đến Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn Trần Thái T, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, ông Trần Thái T yêu cầu ly hôn với bà Lý Thị V. Quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa hôm nay, bà Lý Thị V đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn ông Trần Thái T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/07/2014 theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn Trần Thái T có kết hôn với bị đơn Lý Thị V là sự thật, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vì vậy, giữa ông Trần Thái T và bà Lý Thị V đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì bất đồng quan điểm thường xuyên cải vã làm cho tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến ông Trần Thái T và bà Lý Thị V không còn tiếp tục sống chung với nhau từ năm 2020.
Nguyên đơn kiên quyết yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện không còn sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa ông Trần Thái T và bà Lý Thị V không còn tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn Trần Thái T và bị đơn Lý Thị V thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Trần Thái T đối với bị đơn Lý Thị V là có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho ông Trần Thái T được ly hôn với bà Lý Thị V.
Về con chung: Ông Trần Thái T và bà Lý Thị V có 01 người con chung tên: Trần Khánh P, sinh ngày 20/01/2011 hiện đang sinh sống cùng với ông Trần Thái T. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn khởi kiện ông Trần Thái T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy con tên Trần Khánh P đến thời điểm xét xử đã trên 07 tuổi nên có quyền thể hiện nguyện vọng của mình được sống với cha hoặc mẹ khi cha mẹ ly hôn. Căn cứ vào lời khai của cháu Trần Khánh P, thì cháu Trần Khánh P có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha là ông Trần Thái T. Cháu Trần Khánh P hiện tại sống chung với ông Trần Thái T được chăm sóc đảm bảo cuộc sống của cháu vẫn đảm bảo ổn định phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần.
Nhận thấy nguyện vọng của cháu Trần Khánh P được thể hiện một cách tự nguyện không ai ép buộc, ông Trần Thái T đảm bảo được cuộc sống của cháu Trần Khánh P vẫn ổn định phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Thái T cũng có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, còn bà Lý Thị V không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo cho cuộc sống của cháu Trần Khánh P được ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình để giao Trần Khánh P cho ông Trần Thái T được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Thái T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Trần Thái T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, Khoản 1, Khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thái T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Thái T được ly hôn với bà Lý Thị V.
2/ Về con chung: Giao cho ông Trần Thái T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Khánh P, sinh ngày 20/01/2011 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trong thời gian ông Trần Thái T nuôi con, không ai có quyền cản trở sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn ông Trần Thái T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Thái T và bà Lý Thị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn Trần Thái T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012721 ngày 19/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cần Thơ), ông Trần Thái T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận - VKS khu vực 8 - Cần Thơ; - Các đương sự; - TAND tp Cần Thơ; - Phòng THA.DS khu vực 8 - Cần Thơ; - UBND xã Nhu Gia; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toàn |