vanban.org

Bản án 99/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Minh T được ly hôn với ông Lê Thanh L. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Quỳnh Khánh N, sinh ngày 10/5/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Minh T - Lê Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 9 - 2026
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Út

Bà Mai Huệ Anh Đài

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 385/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1998 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Thanh L, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/7/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Minh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Thanh L tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, đã tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 07 tháng 5 năm 2024.

Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại gia đình chồng tại tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Qúa trình sống chung, vợ chồng hạnh phúc đến khi bà mang thai con đầu lòng thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông L thường hay đánh đập, bóp cổ bà. Bà có mời Công an đến giải quyết, gia đình có can ngăn nhưng sau đó vẫn thường xuyên xảy ra những sự việc như vậy. Do đó, bà bị sảy thai. Khi bà mang thai con thứ hai, ông L vẫn có hành vi đánh đập, hành hung nên bà và con gái đã nhà cha mẹ ruột ở từ ngày 22/5/2025 cho đến nay. Trong thời gian này, ông L cũng thường xuyên gây khó dễ, đòi bắt con. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh L.

- Về con chung: Bà và ông Lê Thanh L có 01 con chung tên Lê Quỳnh Khánh N, sinh ngày 10/5/2024. Khi ly hôn, bà có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Lê Thanh L cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay, bà làm thu ngân tại quán K, thu nhập 15.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Trong khi đó, ông L đi làm biển thu nhập bấp bênh.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Lê Thanh L không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Lê Thanh L: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông L vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Lê Thanh L. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường Đ, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà theo Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Lê Thị Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Lê Thanh L nhưng ông L vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về tranh chấp hôn nhân: Bà Lê Thị Minh T và ông Lê Thanh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là UBND phường Đ, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 116 ngày 13 tháng 6 năm 2021, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị Minh T trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại gia đình chồng tại tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Qúa trình sống chung, vợ chồng hạnh phúc đến khi bà mang thai con đầu lòng thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông L thường hay đánh đập, bóp cổ bà. Bà có mời Công an đến giải quyết, gia đình có can ngăn nhưng sau đó vẫn thường xuyên xảy ra những sự việc như vậy. Do đó, bà bị sảy thai. Khi bà mang thai con thứ hai, ông L vẫn có hành vi đánh đập, hành hung bà nên bà và con gái đã về nhà cha mẹ ruột ở từ ngày 22/5/2025 cho đến nay. Trong thời gian này, ông L cũng thường xuyên gây khó dễ, đòi bắt con.

Tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 16/7/2026, thể hiện: Vợ chồng bà T ông L chung sống hạnh phúc trong thời gian ngắn. Sau khi bà T mang thai con đầu lòng thì hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Khi bà T mang thai con thứ hai, ông L thường xuyên có hành vi đánh đập, hành hung bà. Từ tháng 5/2025, vợ chồng đã sống ly thân nhưng ông L vẫn thường xuyên gây sự, đe dọa bà.

Đối với ông Lê Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, ông L biết việc bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không đến Tòa án để làm việc, có thái độ bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Lê Quỳnh Khánh N, sinh ngày 10/5/2024.

Xét yêu cầu được nuôi con chung của bà Lê Thị Minh T thấy rằng: Cháu N hiện còn nhỏ, dưới 36 tháng, đang trong giai đoạn rất cần sự chăm sóc trực tiếp, thường xuyên của người mẹ và bà T cũng đang trực tiếp nuôi cháu N từ khi sinh ra đến nay. Bản thân bà T có công việc với thu nhập ổn định, đủ điều kiện đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Qúa trình giải quyết vụ án, ông L không trình bày ý kiến về quyền nuôi con, không tham gia tố tụng, thể hiện sự thiếu quan tâm đối với con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Lê Quỳnh Khánh N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

Tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Minh T được ly hôn với ông Lê Thanh L.

2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Quỳnh Khánh N, sinh ngày 10/5/2024.

Ông Lê Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Lê Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000132 ngày 06/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Lê Thị Minh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ