vanban.org

Bản án 99/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Đ được ly hôn với anh Đinh Văn H. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009 và Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của cháu N, cháu V). Anh Đinh Văn H có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Đ-ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 21-4-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Quyên.

Ông Lê Văn Luận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03-4-2026 và ngày 21-4-2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp (Trụ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 416/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 163/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trương Thị Đ, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Đinh Văn H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị Đ có mặt tại phiên tòa; Anh H vắng mặt lần thứ 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lời trình bày của nguyên đơn Trương Thị Đ: Vào năm 2001, chị Đ và anh H sống chung với nhau. Đến năm 2005, chị Đ và anh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp). Trong quá trình chung sống có 04 con chung tên là Đinh Văn C, sinh năm 2002; Đinh Văn T, sinh năm 2003; Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009; Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013. Thời gian chung sống vợ chồng có hạnh phúc, nhưng khoảng thời gian vợ chồng còn sống chung ở huyện T (C) thì anh H không lo làm ăn chỉ lo ăn chơi, tài sản bán hết, mặc dù chị Đ có khuyên can nhưng anh H vẫn không sửa đổi mà còn dùng những lời lẽ khó nghe để xúc phạm chị Đ, có khi anh H còn đánh chị Đ. Đến năm 2019 thì vợ chồng lên tỉnh Bình Dương để đi làm công ty, anh H vẫn không sửa đổi nên vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên có sống chung cũng không hạnh phúc. Vì vậy, nay chị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đối với bị đơn: Về hôn nhân: Chị Trương Thị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Văn H; Về con chung: Có 04 con chung tên là Đinh Văn C, sinh năm 2002; Đinh Văn T, sinh năm 2003; Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009; Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013, chị Đ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009 và Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013 không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Đinh Văn C, sinh năm 2002 và Đinh Văn T, sinh năm 2003 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đinh Văn H: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Đ.

Không yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Đinh Văn H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Đ và anh H sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) ngày 16-8-2005 nên hôn nhân của chị Đ và anh H là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị Đ và anh H có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm do anh H không lo làm ăn chỉ lo ăn chơi, tài sản bán hết, dùng những lời lẽ khó nghe để xúc phạm chị Đ, anh H còn đánh chị Đ, dẫn đến tình cảm không còn nên chị Đ khởi kiện ly hôn với anh H tại Tòa án.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Đinh Văn H và việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn anh Đinh Văn H không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị Trương Thị Đ cũng như không phản đối gì đối với yêu cầu của chị Trương Thị Đ nên yêu cầu của chị Trương Thị Đ là có đủ căn cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị Đ và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, hiện nay đã ly thân với nhau vậy nếu có tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Đ đối với anh Đinh Văn H.

Về con chung: Chị Đ và anh H có 04 con chung tên Đinh Văn C, sinh năm 2002; Đinh Văn T, sinh năm 2003; Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009; Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013. Nay ly hôn chị Đ yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009 và Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Đinh Văn C, sinh năm 2002 và Đinh Văn T, sinh năm 2003 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu N, cháu V đang sống chung với chị Đ, do anh H không ý kiến đối với yêu cầu của chị Đ và hiện tại anh H không có mặt tại phiên tòa, nên xét thấy yêu cầu của chị Đ phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận giao con chung tên Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009 và Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của cháu N, cháu V). Anh Đinh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Trương Thị Đ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Đinh Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh Đinh Văn H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Trương Thị Đ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đinh Văn H theo quy định tại các điều 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Đối với con chung tên Đinh Văn C, sinh năm 2002 và Đinh Văn T, sinh năm 2003 đã thành niên tự lao động sinh sống được không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, vậy chị Trương Thị Đ chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007440 ngày 10-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị Trương Thị Đ đã nộp đủ án phí. Anh Đinh Văn H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 5, 28, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Đ được ly hôn với anh Đinh Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Thanh N, sinh ngày 18-12-2009 và Đinh Thị Tường V, sinh ngày 24-9-2013 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của cháu N, cháu V). Anh Đinh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Trương Thị Đ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Đinh Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh Đinh Văn H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Trương Thị Đ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đinh Văn H.

Đối với con chung tên Đinh Văn C, sinh năm 2002 và Đinh Văn T, sinh năm 2003 đã thành niên tự lao động sinh sống được không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Đ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

Chị Trương Thị Đ có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007440 ngày 10-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị Trương Thị Đ đã nộp đủ án phí.

Anh Đinh Văn H không phải chịu án phí.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 21-4-2026). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ