vanban.org

Bản án 99/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Anh H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang ngày 28/4/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự , Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên - Tịch thu; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HSST
Ngày: 30- 8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đời

Ông Đoàn Văn Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương- Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Ông Thái Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Anh H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2004 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi thường trú: Thôn 4, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở: Số 48 đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Vinh Đ (Chết) và bà Lê Thị Thu P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Nhân thân: Tại Quyết định số 69/QĐ-XPVPHC ngày 20/4/2021 bị Công an thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 375.000đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 28/4/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Sơn Trà có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Võ Thị Hoài T, sinh năm 2000. Nơi thường trú: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở hiện nay: Số 178 đường H, phường H1, quận H2, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Ngô Linh E, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Tổ 95, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tối ngày 27/4/2024, bị cáo nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy. Thông qua mạng xã hội Telegram, bị cáo liên hệ với một người thanh niên có tên tài khoản là “L” (không xác định nhân thân lai lịch) mua 02 viên ma túy thuốc lắc và ketamine với số tiền 2.500.000đồng nhưng chưa đưa tiền. Người tên L đồng ý và nói bị cáo đến lấy ma túy trong một bụi cây gần khu vực bến xe Trung tâm thành phố Đà Nẵng (không xác định địa chỉ cụ thể). Bị cáo đến địa chỉ trên và lấy được 01 gói ma túy chứa 02 viên ma túy thuốc lắc và ketamine. Sau đó, bị cáo giấu gói ma túy vào góc sâu hơn nhưng vẫn trong bụi cây đó rồi đi về. Đến tối ngày 28/4/2024, bị cáo điều khiển xe Honda SH, màu đen, BKS: 78G1-573.68 chở theo bạn gái là chị Võ Thị Hoài T đi dạo. Khi ghé ngang địa điểm cất giấu ma tuý, bị cáo dừng xe bên đường và nói dối với chị T là vào đi vệ sinh. Chị T ngồi trên xe chờ, còn bị cáo đi bộ vào bụi cây lấy chiếc khẩu trang cuộn tròn bên trong có gói ma tuý đã mua trước đó của “L” cầm ở tay trái, rồi quay ra tiếp tục điều khiển xe mô tô chở chị T đi dạo. Đến khoảng 22 giờ 40 phút ngày 28.4.2024, khi bị cáo chở chị Võ Thị Hoài T đến ngã tư giao nhau giữa đường Dương Vân Nga với đường Vân Đồn, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng thì bị Tổ công tác C2-911 Công an TP. Đà Nẵng phối hợp cùng Công an quận Sơn Trà đang tiến hành tuần tra phòng chống tội phạm trên địa bàn quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên dừng phương tiện để kiểm tra. Khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, bị cáo vứt 01 chiếc khẩu trang màu trắng đã được cuộn tròn đang cầm ở tay trái xuống mặt đường ngay vị trí bị cáo đang đứng. Qua kiểm tra chiếc khẩu trang màu trắng phát hiện bên trong có 01 gói ni lông chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén không rõ hình dạng, màu đen xám, bị cáo khai nhận gói ni lông chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại katemin và 02 viên nén là ma túy thuốc lắc do bị cáo mua về và cất giấu để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Tổ công tác C2-911 Công an TP.Đà Nẵng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo và thu giữ tang vật.

* Tang vật tạm giữ:

- Của bị cáo:

+ 01 gói ni lông kích thước khoảng (2x3)cm chứa: chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén không rõ hình dạng, màu đen xám, nghi là ma tuý, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H;

+ 01 chiếc khẩu trang, màu trắng;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 78G1-573.68;

- Của chị Võ Thị Hoài T:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 352192201896593, gắn sim số: 0935.528.011.

* Tại Kết luận giám định số 347/KL-KTHS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP.Đà Nẵng xác định:

- Tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu Ha) gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 1,468 gam;

- 02 viên nén màu đen không rõ hình dạng (ký hiệu Hb) gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng: 0,699 gam.

( Ha, Hb là ký hiệu khi mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định)

MỤC

KETAMIN

MDMA

TỔNG

E

Không

KHỐI LƯỢNG

1,468 gam

0,699 gam

tính

PHẦN TRĂM

(so với mức tối

(1,468:20)

thiểu đối với từng chất

(0,699:5) x

x100% = 7,34

21,32 % tại điểm tương ứng quy

100% = 13,98 %

%

định tại khoản 2 Điều

249 BLHS)

Căn cứ Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, trường hợp này thuộc điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

Tại bản cáo trạng số: 90/CT- VKS ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Lê Anh H từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, dán kín ký hiệu H (có dán băng keo trong bên ngoài), được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên; 01 chiếc khẩu trang, màu trắng do liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo Lê Anh H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không tranh luận với Kiểm sát viên về hành vi phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong quá trình bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức về hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 28.4.2024, tại khu vực ngã tư đường Dương Vân Nga giao nhau với đường Vân Đồn, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,468 gam ma túy, loại Ketamine và 0,699 gam ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác C2-911 Công an TP.Đà Nẵng bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng không lo làm ăn lương thiện mà lại thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân. Bị cáo nhận thức được tác hại nghiêm trọng của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, nhận thức được tình hình tệ nạn xã hội do ma túy gây ra nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất ổn trong nhân dân trên địa bàn Tp Đà Nẵng nói chung và địa bàn quận Sơn Trà nói riêng nên phải xử lý nghiêm khắc.

Song xét tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Trước khi phạm tội bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chị Võ Thị Hoài T là chủ sở hữu xe mô tô hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 78G1-573.68 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, gắn sim số: 0935.528.011. Chị T đưa xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 78G1-573.68 cho bị cáo điều khiển và chị T không biết bị cáo mua ma túy và cất giấu ma túy để sử dụng nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý hình sự đối với chị T và ra Quyết định xử lý vật chứng số 643 và Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 644 cùng ngày 05.7.2024 trả lại các tài sản trên cho chị T là phù hợp.

- Đối với 01 bì giấy của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, dán kín ký hiệu H (có dán băng keo trong bên ngoài), được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên; 01 chiếc khẩu trang màu trắng. Vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên HĐXX tịch thu, tiêu hủy.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024.

Đối với chị Võ Thị Hoài T không biết Lê Anh H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua xét nghiệm chị T âm tính với chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên chấp nhận.

Án phí HSST bị cáo Lê Anh H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Anh H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang ngày 28/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự , Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì giấy của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, dán kín ký hiệu H (có dán băng keo trong bên ngoài), được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên; 01 chiếc khẩu trang màu trắng.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí HSST bị cáo Lê Anh H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ