vanban.org

Bản án 99/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. I.Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với chị Trương Vũ Thị Thủy về việc buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải thanh toán số tiền lãi quá hạn được tính từ ngày 11/02/2024 cho đến ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/DS-ST
Ngày 27-9-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du

Ông Nguyễn Văn Trình

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ ,TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2024/TLST- DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2024/QĐST-DS ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng Tín

Trụ sở: Lầu 8, số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 144/2024/GUQ-CNSH ngày 15/4/2024; Quyết định ủy quyền số ngày 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 Giấy ủy quyền số 165/2024/GUQ-CNSH ngày 15/4/2024): Ông Trƣơng Đình Vinh, chức vụ: Chuyên viên (có mặt)

Địa chỉ: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Sông Hàn, số 240 Nguyễn Hữu Thọ, phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

-Bị đơn: Chị Trƣơng Vũ Thị Thủy, sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: 87 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện; các bản tự khai; các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ông Trương Đình Vinh trình bày:

Ngày 07/05/2021, chị Trương Vũ Thị Thủy có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của chị Thủy, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị Thủy đã thực hiện 09 giao dịch với tổng số tiền 204.905.288 đồng. Lãi suất áp dụng 2,4%/ tháng từ ngày 01/11/2022, lãi suất 2,76%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được Sacombank quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay chị Thủy đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 180.403.429 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị Thủy vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị Thủy vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 27/9/2024, chị Trương Vũ Thị Thủy còn nợ ngân hàng các khoản sau: · Dư nợ gốc : 55.491.243 đồng · Lãi quá hạn : 17.651.120 đồng . Tổng cộng nợ gốc và lãi là: 73.142.363 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với chị Thủy, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên chị Thủy vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Theo nội dung đơn khởi kiện thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu chị Trương Thị Vũ Thủy phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 10/6/2024 là: 64.777.267đồng (Sáu mươi bốn triệu, bảy trăm bảy mươi bảy ngàn, hai trăm sáu mươi bảy đồng) trong đó tiền nợ gốc là 55.491.243 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày10/6/2024 là 9.286.024 đồng và đề nghị Tòa án buộc bị đơn chị Thủy phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và buộc chị Thủy phải chịu toàn bộ án phí và chi phí liên quan khác nếu có.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như đảm bảo việc thu hồi vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đề nghị Tòa án buộc chị Trương Thị Vũ Thủy phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 tổng cộng là 73.142.363 đồng, trong đó:

Dư Nợ gốc : 55.491.243 đồng.

Lãi quá hạn : 17.651.120 đồng.

Và chị Trương Vũ Thị Thủy có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

*Bị đơn chị Trương Vũ Thị Thủy đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa để chị Thủy trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng tại tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng cho đến ngày mở phiên tòa hôm nay chị Thủy vẫn vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo trừ bị đơn chị Trương Vũ Thị Thủy.

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn chị Trương Vũ Thị Thủy đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2. Căn cứ quy định tại khoản 2 điều 227 BLTTDS đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt chị Trương Vũ Thị Thủy.

Về nội dung:

Đối với yêu cầu trả nợ gốc 55.491.243 đồng: Ngày 07/05/2021, chị Trương Vũ Thị Thủy có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của chị Thủy, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tại phần cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có nội dung “Bằng việc ký Giấy đề nghị, Chủ thẻ và Sacombank đồng ý tuân thủ ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng và cùng với mẫu đơn này tạo nên một Hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Sacombank „

Tại Điều 24 của Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín quy định “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng..“ Theo các chứng cứ mà ngân hàng cung cấp: Sau khi được cấp thẻ tín dụng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị Thủy đã thực hiện 09 giao dịch với tổng số tiền 204.905.288 đồng. Chị Thủy đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 180.403.429 đồng. Tính đến ngày 27/9/2024 dư nợ gốc của Chị Thủy là: 55.491.243 đồng. Từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ chị Thủy không thanh toán được nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng. Như vậy, theo bản Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ như đã viện dẫn nêu trên thì chị Thủy đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Sacombank. Do đó, Sacombank yêu cầu chị Thủy phải thanh toán nợ cho Ngân hàng trong đó có khoản nợ gốc 55.491.243 đồng là có cơ sở.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi quá hạn của Ngân hàng 17.651.120 đồng:

Theo Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ quy định “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ hạn phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng”. Theo bản tự khai cung cấp thì ngân hàng tính lãi quá hạn được tính trên toàn bộ dư nợ đến hạn bao gồm nợ gốc cộng dồn với các khoản lãi trong hạn và các loại phí. Theo đó Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ lãi quá hạn với số tiền 17.651.120 đồng. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng thì “số tiền làm căn cứ để tính lãi là số tiền thực tế đã huy động của khách hàng hoặc số tiền thực tế đã cho khách hàng vay” và theo điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định “Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất không vượt quá 150% lãi cho vay trong hạn”. Như vậy thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ về phương pháp tính lãi quá hạn bao gồm cả nợ gốc cộng dồn với khoản lãi trong hạn và các loại phí là trái với quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước như đã viện dẫn nêu trên. Nên không chấp nhận cách tính lãi suất quá hạn của ngân hàng Sacombank như trên, đề nghị ngân hàng tính lãi suất quá hạn theo quy định.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Khoản 15 Điều 4; Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín: Buộc bà Trương Vũ Thị Thủy phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền gốc là 55.491.243 đồng và tiền lãi quá hạn theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Thủy phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện là 300.000đ và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các đương sự trình bày ý kiến; sau khi thảo luận và nghị án, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với chị Trương Vũ Thị Thủy và Tòa án đã thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của Ngân hàng là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trương Vũ Thị Thủy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Vì vậy căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn chị Trương Vũ Thị Thủy.

Về nội dung:

Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu Tòa án tuyên buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ lãi và gốc tạm tính đến ngày 10/6/2024 là: 64.777.267 đồng (Sáu mươi bốn triệu, bảy trăm bảy mươi bảy ngàn, hai trăm sáu mươi bảy đồng) trong đó tiền nợ gốc là 55.491.243 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày10/6/2024 là 9.286.024 đồng và đề nghị Tòa án buộc bị đơn chị Thủy phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và buộc chị Thủy phải chịu toàn bộ án phí và chi phí liên quan khác nếu có.

Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng xác định lại số tiền nợ gốc, nợ lãi mà Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu chị Trương Vũ Thị Thủy phải thanh toán tính đến ngày xét xử 27/9/2024 được điều chỉnh có tăng thêm, cụ thể: nợ gốc 55.491.243 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử 27/9/2024: 17.651.120 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi mà Ngân hàng yêu cầu chị Thủy phải thanh toán tính đến ngày xét xử 27/9/2024 là: 73.142.363 đồng.

HĐXX xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Trương Vũ Thị Thủy để triệu tập đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng chị Thủy vẫn không đến Tòa án theo triệu tập do vậy chị Thủy không có lời khai cung cấp cho Tòa án được.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 07/05/2021, chị Trương Vũ Thị Thủy có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của chị Thủy, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị Thủy đã thực hiện 09 giao dịch với tổng số tiền 204.905.288 đồng. Lãi suất áp dụng 2,4%/ tháng từ ngày 01/11/2022, lãi suất 2,76%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được Sacombank quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay chị Thủy đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 180.403.429 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị Thủy vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị Thủy vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 27/9/2024, chị Trương Vũ Thị Thủy còn nợ ngân hàng các khoản sau: · Dư nợ gốc : 55.491.243 đồng · Lãi quá hạn : 17.651.120 đồng . Tổng cộng nợ gốc và lãi là: 73.142.363 đồng.

Mặc dù Ngân hàg đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với chị Thủy, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên chị Thủy vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do chị Trương Vũ Thị Thủy vi phạm thỏa thuận về thanh toán được quy định tại Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng nên việc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và Ngân hàng khởi kiện để yêu cầu chị Thủy phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng tính đến thời điểm xét xử 27/9/2024 là phù hợp quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng xác định lại số tiền nợ gốc và lãi mà Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện đề nghị Tòa án buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải thanh toán tính đến ngày xét xử 27/9/2024 được điều chỉnh có tăng thêm, cụ thể: nợ gốc 55.491.243 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử 27/9/2024: 17.651.120 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi mà Ngân hàng yêu cầu chị Thủy phải thanh toán theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 07/05/2021) tính đến ngày xét xử 27/9/2024 là 73.142.363 đồng.

HĐXX thấy: Đối với yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín về việc buộc bị đơn chị Trương Vũ Thị Thủy phải trả khoản lãi quá hạn theo Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ quy định “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ hạn phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng „.Theo bản tự khai cung cấp thì ngân hàng tính lãi quá hạn được tính trên toàn bộ dư nợ đến hạn bao gồm nợ gốc cộng dồn với các khoản lãi trong hạn và các loại phí. Theo đó Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ lãi quá hạn với số tiền 17.651.120 đồng. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng thì “số tiền làm căn cứ để tính lãi là số tiền thực tế đã huy động của khách hàng hoặc số tiền thực tế đã cho khách hàng vay” và theo điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định “Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất không vượt quá 150% lãi cho vay trong hạn”. Như vậy thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ về phương pháp tính lãi quá hạn bao gồm cả nợ gốc cộng dồn với khoản lãi trong hạn và các loại phí là trái với quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước như đã viện dẫn nêu trên. Nên việc Ngân hàng tính lãi suất qúa hạn đối với số tiền được tính từ ngày 11/02/2024 cho đến ngày xét xử 27/9/2024 là 674.211 đồng [được tính đối số tiền nợ lãi, nợ phí tổng cộng: 1.527.145 đồng + 556.464 đồng + 79.461 đồng = 2.163.071 đồng x (2,76%/ tháng x 150%) x 229 ngày= 2.163.071 đồng x 0,13611%/1 ngày x 229 ngày = 674.211 đồng ] là không phù hợp, nên không có cơ sở để chấp nhận đối với một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc chị Thủy phải chịu số tiền lãi quá hạn 674.211 đồng mà Ngân hàng đã yêu cầu chị Thủy phải trả trong tổng số tiền lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2024 là 17.651.120 đồng; HĐXX chỉ chấp nhận buộc chị Thủy trả số tiền nợ gốc 55.491.243 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2024 là 16.976.909 đồng (17.651.120 đồng

- 674.111 đồng = 16.976.909 đồng);

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. HĐXX thấy có đủ cơ sở để áp dụng Điều 357, 428,429,463,466,468,470 Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 2 Điều 3 và khoản 2 điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước.

-Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với chị Trương Vũ Thị Thủy về việc buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải thanh toán số tiền lãi quá hạn được tính từ ngày 11/02/2024 cho đến ngày xét xử 27/9/2024 là 674.211 đồng (Sáu trăm bảy mươi bốn ngàn, hai trăm mười một đồng); (được tính đối số tiền nợ lãi, nợ phí tổng cộng: 1.527.145 đồng + 556.464 đồng + 79.461 đồng = 2.163.071đồng ).

-Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với chị Trương Vũ Thị Thủy về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

+Buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2024 tổng cộng là 72.468.152 đồng (Bảy mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi tám ngàn, một trăm năm mươi hai đồng). Trong đó nợ gốc là 55.491.243 đồng; nợ lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2024: 16.976.909 đồng.

+ Kể từ ngày 28/9/2024, chị Thủy còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được thể hiện bằng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa chị Trương Vũ Thị Thủy với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ngày 07/05/2021 cho đến khi chị Thủy thanh toán xong khoản nợ gốc.

Án phí dân sự sơ thẩm:

-Chị Trương Vũ Thị Thủy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.623.407 đồng (Ba triệu, sáu trăm hai mươi ba ngàn, bốn trăm lẻ bảy đồng).

- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm do không được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 1.619.432 đồng (Một triệu, sáu trăm mười chín ngàn, bốn trăm ba mươi hai đồng) theo biên lai thu số 0001719 ngày 09/7/2024 (biên lai thu trực tuyến số 000001443511 ngày 06/7/2024) tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Cẩm Lệ. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được hoàn trả số tiền 1.319.432 đồng (Một triệu, ba trăm mười chín ngàn, bốn trăm ba mươi hai đồng).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị:

Đối với yêu cầu trả nợ gốc 55.491.243 đồng: Ngày 07/05/2021, chị Trương Vũ Thị Thủy có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của chị Thủy, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tại phần cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có nội dung “Bằng việc ký Giấy đề nghị, Chủ thẻ và Sacombank đồng ý tuân thủ ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng và cùng với mẫu đơn này tạo nên một Hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Sacombank „

Tại Điều 24 của Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín quy định “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng..“ Theo các chứng cứ mà ngân hàng cung cấp: Sau khi được cấp thẻ tín dụng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị Thủy đã thực hiện 09 giao dịch với tổng số tiền 204.905.288 đồng. Chị Thủy đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 180.403.429 đồng. Tính đến ngày 27/9/2024 dư nợ gốc của Chị Thủy là: 55.491.243 đồng. Từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ chị Thủy không thanh toán được nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng. Như vậy, theo bản Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ như đã viện dẫn nêu trên thì chị Thủy đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Sacombank. Do đó, Sacombank yêu cầu chị Thủy phải thanh toán nợ cho Ngân hàng trong đó có khoản nợ gốc 55.491.243 đồng là có cơ sở.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi quá hạn của Ngân hàng 17.651.120 đồng:

Theo Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ quy định “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ hạn phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng”. Theo bản tự khai cung cấp thì ngân hàng tính lãi quá hạn được tính trên toàn bộ dư nợ đến hạn bao gồm nợ gốc cộng dồn với các khoản lãi trong hạn và các loại phí. Theo đó Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ lãi quá hạn với số tiền 17.651.120 đồng. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng thì “số tiền làm căn cứ để tính lãi là số tiền thực tế đã huy động của khách hàng hoặc số tiền thực tế đã cho khách hàng vay” và theo điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định “Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất không vượt quá 150% lãi cho vay trong hạn”. Như vậy thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ về phương pháp tính lãi quá hạn bao gồm cả nợ gốc cộng dồn với khoản lãi trong hạn và các loại phí là trái với quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước như đã viện dẫn nêu trên. Nên không chấp nhận cách tính lãi suất quá hạn của ngân hàng Sacombank như trên, đề nghị ngân hàng tính lãi suất quá hạn theo quy định.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Khoản 15 Điều 4; Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín: Buộc bà Trương Vũ Thị Thủy phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền gốc là 55.491.243 đồng và tiền lãi quá hạn theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Thủy phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện là 300.000đ và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Điều 357, 428,429,463,466,468,470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 3 và khoản 2 điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

-Khoản 2 Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng nhà nước; Điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước.

- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019

- Điều 147, khoản 2 Điều 227, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

I.Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với chị Trương Vũ Thị Thủy về việc buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải thanh toán số tiền lãi quá hạn được tính từ ngày 11/02/2024 cho đến ngày xét xử 27/9/2024 là 674.211 đồng (Sáu trăm bảy mươi bốn ngàn, hai trăm mười một đồng); (được tính đối số tiền nợ lãi, nợ phí tổng cộng: 1.527.145 đồng + 556.464 đồng + 79.461 đồng = 2.163.071đồng ).

I. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với chị Trương Vũ Thị Thủy về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

- Buộc chị Trương Vũ Thị Thủy phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2024 tổng cộng là 72.468.152 đồng (Bảy mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi tám ngàn, một trăm năm mươi hai đồng). Trong đó nợ gốc là 55.491.243 đồng; nợ lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2024: 16.976.909 đồng.

Kể từ ngày 28/9/2024, chị Thủy còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được thể hiện bằng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa chị Trương Vũ Thị Thủy với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ngày 07/05/2021 cho đến khi chị Thủy thanh toán xong khoản nợ gốc.

II. Án phí dân sự sơ thẩm:

-Chị Trương Vũ Thị Thủy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.623.407 đồng (Ba triệu, sáu trăm hai mươi ba ngàn, bốn trăm lẻ bảy đồng).

- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm do không được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 1.619.432 đồng (Một triệu, sáu trăm mười chín ngàn, bốn trăm ba mươi hai đồng) theo biên lai thu số 0001719 ngày 09/7/2024 (biên lai thu trực tuyến số 000001443511 ngày 06/7/2024) tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Cẩm Lệ. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được hoàn trả số tiền 1.319.432 đồng (Một triệu, ba trăm mười chín ngàn, bốn trăm ba mươi hai đồng).

III. Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

IV. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng chị Trương Vũ Thị Thủy vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Cẩm Lệ;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Thanh Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Cẩm Lệ;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Thanh Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ