vanban.org

Bản án 99/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 16 tháng 5 năm 2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 99/2023/HSST
Ngày 21.9.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Anh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình – Bà Huỳnh Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

tham gia phiên toà: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N - sinh ngày 19 tháng 4 năm 1995 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, Tp Đà Nẵng, nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T (Chết) và bà Nguyễn Thị H (Sinh năm 1972); chưa có vợ con;

Tiền án: Không có;

Tiền sự: Ngày 12/4/2023 bị Công an phường H, quận L xử phạt hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

- Ngày 06/5/2022 bị Công an P, Q. L xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 26/6/2023 bị Công an quận L xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận L, (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đinh Ngọc H1 – sinh năm 1992; nơi cư trú: 71 B, phường H, quận L, TP

.. (Vắng mặt, không có lý do)

+ Anh Lê Anh P – sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk

Lắk.(Vắng mặt, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14h10 ngày 16/5/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ của Nguyễn Văn N tại tổ A, P. H, Q. L, TP . phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ của N gồm có:

- 01 bao thuốc lá hiệu White Horse bên trong có 01 gói nylon có kích thước

khoảng (2x2)cm có chứa tinh thể màu trắng và 01 bao thuốc lá hiệu White Horse bên trong có 01 gói nylon có kích thước khoảng (7,2x4,2)cm có chứa tinh thể màu trắng (Được niêm phong đánh ký hiệu A);

- 01 chai nhựa bên ngoài ghi chữ KEVIVE, 01 ống nhựa màu trắng gắn ống hút

màu đen và nỏ thủy tinh và 01 máy bật lửa;

- 01 điện thoại di động Iphone màu bạc, có gắn thẻ sim 0777429902;

Theo kết luận giám định số: 428/KL-KTHS ngày 24/5/2023 của Phòng K Công an T, kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 gói ni lon trong bì thư niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 4,586 gam.

Quá trình điều tra, từ lời khai của Nguyễn Văn N, những người liên quan, nhân chứng và tang vật thu giữ xác định:

Vào ngày 16/5/2023, N gọi điện cho một người tên “Pin” (Chưa rõ nhân thân lai lịch) qua số điện thoại 0905905598 để hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá, P1 đồng ý và hẹn N đến dưới chân Cầu vượt Ngã ba Huế, TP . để giao dịch mua bán ma túy. N bắt xe Grap đến thì được một nam thanh niên (Không rõ lai lịch) giao cho một gói ma túy đựng trong vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse và một bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Sau đó, N đưa số ma túy này về phòng trọ rồi phân ra thành 02 gói bỏ vào trong 02 bao thuốc lá hiệu White Horse để ở trên bàn cùng với bộ D sử dụng ma túy, mục đích N mua ma túy là để bán lại kiếm lời nhưng chưa bán được đã bị Cơ quan công an phát hiện.

Trước đó, vào ngày 12/5/2023 cũng tại dưới chân Cầu vượt Ngã ba Huế N có mua của P1 01 gói ma túy đá với giá 600.000 đồng. Sau khi mua về, N trích ra một ít để sử dụng còn lại phân ra bán cho Lê Anh P 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng tại phòng trọ của P vào ngày 12/5/2023 và bán lại cho Đinh Ngọc H1 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng tại phòng trọ của N vào ngày 12/5/2023.

Quá trình mua bán trái phép chất ma túy N thu lợi bằng ma túy chênh lệch để sử dụng. Ngoài ra, N khai nhận bản thân bắt đầu sử dụng ma túy cách ngày bị bắt khoảng ba tháng, ngày 12/5/2023 là lần đầu tiên N mua ma túy của P1 để bán cho người khác kiếm lời.

Qua kiểm tra chất ma túy trong cơ thể xác định Nguyễn Văn N dương tính với chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời quản lý để chờ xử lý đối với các vật chứng sau: 01 phòng bì đã được niêm phong chứa toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa bên ngoài ghi chữ KEVIVE, 01 ống nhựa màu trắng gắn ống hút màu đen, 01 nỏ thủy tinh, 01 máy bật lửa, 02 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse và 01 điện thoại di động Iphone màu bạc, có gắn thẻ sim 0777429902.

Tại Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát

nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội "Mua bán phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu vẫn giữ nguyên

quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa bên ngoài ghi chữ KEVIVE, 01 ống nhựa màu trắng gắn ống hút màu đen, 01 nỏ thủy tinh, 01 máy bật lửa, 02 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu bạc, có

gắn thẻ sim 0777429902.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá

trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và tang vật thu giữ được. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/5/2023, tại phòng trọ ở tổ A, H, L, Đà Nẵng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường H đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 4,586 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để bán lại cho những người có nhu cầu mua. Trước đó, vào ngày 12/5/2023, N đã bán ma túy cho Lê Anh P và Đinh Ngọc H1 hưởng lợi được số ma túy chênh lệch để sử dụng. Như vậy, Nguyễn Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với khối lượng 4,586 gam ma túy loại Methamphetamine theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nghĩa l nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống của dân tộc, ma tuý là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, nhưng bản thân là người sử dụng ma túy, đã từng 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, vẫn cố ý bán ma túy nhiều lần cho các con nghiện nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự khai ra lần phạm tội trước đó nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phải bổ sung đối với bị cáo N số tiền 5.000.000 đồng.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề

nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 chai nhựa bên ngoài ghi chữ KEVIVE, 01 ống nhựa màu trắng gắn ống hút

màu đen, 01 nỏ thủy tinh, 01 máy bật lửa, 02 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse là công cụ bị cáo dùng để sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động Iphone màu bạc, có gắn thẻ sim 0777429902 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Công an quận L xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với Lê Anh P và Đinh Ngọc H1 có hành vi mua ma túy của N để sử dụng đã bị Công an quận L ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Đối với người tên P1 đã bán ma túy cho N hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 16 tháng 5 năm 2023.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa bên ngoài ghi chữ KEVIVE, 01 ống nhựa màu trắng gắn ống hút màu đen, 01 nỏ thủy tinh, 01 máy bật lửa, 02 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse .

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu bạc, có

gắn thẻ sim 0777429902 .

(Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 9 năm 2023)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản

1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ