- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T + Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HS-ST Ngày 27-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Th Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Dũng.
2. Ông Quàng Ngọc Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2023/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Lò Văn Th (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/9/1988 tại
huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không học; dân tộc: Xinh Mun; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn D, sinh năm 1963 và bà Lò Thị H, sinh năm 1969; vợ Lò Thị Đ, sinh năm 1987 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 14/5/2023; tạm giam từ ngày 14/5/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2- Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/10/1993 tại
huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Co P, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Ó, sinh năm 1963 và bà Lường Thị H, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 14/5/2023; tạm giam từ ngày 14/5/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lường Thị H, sinh năm 1980.
Nơi cư trú: Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 05/05/2023, Lò Văn Th đi bộ sang nhà Lò Văn T để rủ T đi làm thuê cho anh Lò Văn Th ở Bản Co P, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên. Lò Văn T đồng ý, sau đó Lò Văn Th đi bộ sang nhà anh Th trước, khoảng 05 phút sau thì Lò Văn T điều khiển xe máy sang nhà anh Th. Tại đây, Lò Văn Th và Lò Văn T cùng làm thuê bốc bao tải phân lên xe cho anh Th, khoảng 15 giờ cùng ngày Lò Văn Th và Lò Văn T làm xong việc thì được anh Th trả công cho hai người số tiền 120.000đ. Lò Văn Th cầm tiền và rủ Lò Văn T đi lên bản Pu Nh, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua Heroine để cả hai người cùng nhau sử dụng. Lò Văn T đồng ý và điều khiển xe máy đi đổ xăng hết 20.000đ, sau đó T điều khiển xe chở Th đi đến khu vực đồi nương thuộc bản Pu Nh, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đ, cách khoảng 02 km thì Th bảo T dừng xe lại để Th đi tìm mua Heroine. Lò Văn Th đi bộ khoảng 50 mét thì gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết 01 cục Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000đ. Mua được Heroine, Lò Văn Th cầm ở tay trái rồi quay lại chỗ T đang đợi và bảo T mua được Heroine rồi đi về, T điều khiển xe máy chở Th đi về. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi hai người đi đến bản Lọng Chuông, xã Na Son thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên Đông phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại tay trái của Lò Văn Th 01 cục Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng có khối lượng 0,30 gam.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng dùng lửa hàn kín, bên trong có chứa cục chất bột màu trắng đục dạng nén, nghi Heroine, 01 chiếc xe máy màu đỏ - đen - trắng, nhãn hiệu SYM, xe không có biển kiểm soát; số máy: MVBAC-D 002438; không số khung, xe cũ đã qua sử dụng, xe bị trầy xước, cong vênh nhiều chỗ (không có chìa khóa kèm theo).
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 21 giờ 10 phút ngày 05/5/2023 xác định: 01 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine thu giữ của Lò Văn Th, Lò Văn T có khối lượng 0,30 gam, trích mẫu gửi giám định 0,2 gam. Vật chứng còn lại 0,1 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 747/KL-KTHS ngày 14/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục dạng nén trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Th, Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine, khối lượng 0,30 gam.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã điều
tra xác minh, xác định chiếc xe máy màu đỏ - đen - trắng, nhãn hiệu SYM, xe không có biển kiểm soát; số máy: MVBAC-D 002438; không số khung, xe cũ đã qua sử dụng, xe bị trầy xước, cong vênh nhiều chỗ (không có chìa khóa kèm theo) mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông thu giữ của Lò Văn T là tài sản hợp pháp của chị Lường Thị H, sinh năm 1980, nơi cư trú: Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên
Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lường Thị H có lời khai thể hiện: Chiếc xe máy màu đỏ - đen - trắng, nhãn hiệu SYM, xe không có biển kiểm soát; số máy: MVBAC-D 002438; không số khung, xe cũ đã qua sử dụng, xe bị trầy xước, cong vênh nhiều chỗ (không có chìa khóa kèm theo) mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông thu giữ của Lò Văn T là tài sản của vợ chồng chị, chiếc xe vợ chồng chị mua của anh Quàng Văn Choi, trú tại bản Púng Bom, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vào năm 2018, với giá 7.000.000đ, số tiền dùng mua xe là vợ chồng chị đi làm thuê mà có. Việc Lò Văn T lấy xe dùng làm phương tiện đi mua ma túy chị không biết. Nên làm đơn đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe cho chị để làm phương tiện đi lại và sinh hoạt hàng ngày.
Bản cáo trạng số: 62/CT-VKS-ĐBĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17,
Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 04 tháng tù về
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự; Điểm a Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 0,1 gam Heroine còn lại sau giám định.
- Trả lại 01 chiếc xe máy màu đỏ - đen - trắng, nhãn hiệu SYM, xe không có biển kiểm soát; số máy: MVBAC-D 002438; không số khung, xe cũ đã qua sử dụng, xe bị trầy xước, cong vênh nhiều chỗ (không có chìa khóa kèm theo) cho chị Lường Thị H, sinh ngày 20/9/1980, trú tại Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Miễn án phí hình sự
cho các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh
luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về hành vi của các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T thấy rằng: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Cụ thể: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 05/05/2023, Tổ công tác Công an huyện
Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang Lò Văn Th, Lò Văn T đang cất giấu trái phép 0,30 gam Heroine. Mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.
. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Lò Văn Th là người khởi xướng, thực hành còn Lò Văn T là người giúp sức. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã Na S nói riêng, huyện Điện Biên Đ nói chung. Vì vậy, hành vi của các bị cáo phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân
của bị cáo: Bản thân các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo làm nông nghiệp, là những đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do vậy, không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về vật chứng vụ án: Gồm 0,30 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định
0,2 gam, vật chứng còn lại 0,1 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ theo Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điểm a Khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Trả lại 01 chiếc xe máy màu đỏ - đen - trắng, nhãn hiệu SYM, xe không có biển kiểm soát; số máy: MVBAC-D 002438; không số khung, xe cũ đã qua sử dụng, xe bị trầy xước, cong vênh nhiều chỗ (không có chìa khóa kèm theo) cho chị Lường Thị H, sinh ngày 20/9/1980, trú tại Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
. Các vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ dân tộc Mông là người bán ma túy cho bị cáo Lò Văn Th, do bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ thông tin để xác minh làm rõ, nên không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.
- Đối với anh Lò Văn Th, sinh năm 1994, trú tại bản Co Píp, xã Na Son là người trả tiền 120.000đ cho Lò Văn Th, Lò Văn T. Lò Văn Th, Lò Văn T sử dụng số tiền trên để mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy lời khai anh Th không biết việc Th và T đi mua ma túy nên không đề cập xử lý trong vụ án. HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang cư trú nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, HĐXX áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều
17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”:
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày bị bắt tạm giữ (05/5/2023).
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày bị bắt tạm giữ (05/5/2023).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật
Hình sự; Điểm a Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 0,1 gam Heroine còn lại sau giám định.
- Trả lại 01 chiếc xe máy màu đỏ - đen - trắng, nhãn hiệu SYM, xe không có biển kiểm soát; số máy: MVBAC-D 002438; không số khung, xe cũ đã qua sử dụng, xe bị trầy xước, cong vênh nhiều chỗ (không có chìa khóa kèm theo) cho chị Lường Thị H, sinh ngày 20/9/1980, trú tại Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên.
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 29/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ
Khoản 1 Điều 12; Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2023)./.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ C.A huyện ĐBĐ; - Phòng NVHS CA huyện ĐBĐ; - CCTHADS huyện Điện Biên Đông; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Các bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Th Giang |