- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ M xin ly hôn với Phan Hữu L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Mỹ M về việc xin ly hôn với anh Phan Hữu L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 5 năm 2023 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Lệ Hoa
Bà Quách Thùy Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 43/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ M, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Tổ 30, khu phố 3A, phường D, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Phan Hữu L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã P, huyện B, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ M trình bày tại đơn khởi kiện như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Phan Hữu L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã PT, huyện L, tỉnh Bạc Liêu vào năm 2011. Trong thời gian chung sống đến nay hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được. Nên chị và anh L đã ly thân hơn 06 tháng. Chị xác định hiện vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Phan Hữu L.
Về con chung: Chị và anh Phan Hữu L có 02 con chung tên Phan Trần Ngọc M, sinh ngày 22/12/2009 và Phan Trần Thiên K, sinh ngày 14/4/2015. Hiện hai con đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi hai con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh L không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chị và anh L không có nợ chung.
- Đối với anh Phan Hữu L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh Lvẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Trần Thị Mỹ M và anh Phan Hữu L được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Phan Hữu L có nơi cư trú tại xã P, huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ M có đơn xin xét xử vắng mặt, đối với bị đơn anh Phan Hữu L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh L theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ M và anh Phan Hữu L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã PT, huyện L, tỉnh Bạc Liêu theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hiện chị M yêu cầu xin ly hôn với anh L. Theo lời trình bày của chị M do vợ chồng sống không hợp nhau, và có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Anh chị đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Đồng thời, trong suốt thời gian chị M yêu cầu ly hôn tại Tòa án thì anh L không đến Tòa án để hòa giải cũng như không gửi ý kiến của mình cho Tòa án, điều đó chứng tỏ anh L cũng không có ý thức hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung giữa chị Trần Thị Mỹ M và anh Phan Hữu L mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đựơc, hiện chị Trần Thị Mỹ M và anh Phan Hữu L mỗi người đã có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc ai. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị M về việc xin ly hôn với anh L.
[3] Về con chung: Chị Trần Thị Mỹ M và anh Phan Hữu L có 02 con chung tên Phan Trần Ngọc M, sinh ngày 22/12/2009 và Phan Trần Thiên K, sinh ngày 14/4/2015. Hiện hai con đang sống cùng chị M. Khi ly hôn chị M yêu cầu nuôi hai con chung. Xét thấy hiện các cháu đang sống cùng chị M, anh L cũng không có ý kiến về việc yêu cầu nuôi con, để tránh xáo trộn tâm lý và ảnh hưởng việc học tập của các cháu nên tiếp tục giao cháu M và cháu K cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không đặt ra yêu cầu anh Lcấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Phan Hữu L không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Chị M khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị M khai không nợ ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị M phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Mỹ M về việc xin ly hôn với anh Phan Hữu L
Về con chung: Giao con chung tên Phan Trần Ngọc M, sinh ngày 22/12/2009 và Phan Trần Thiên K, sinh ngày 14/4/2015 đang sống cùng chị M cho chị Trần Thị Mỹ M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Anh Phan Hữu L không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Trần Thị Mỹ M phải chịu. Chị M đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 004641 vào ngày 01/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được đối trừ, chị M đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Trần Thị Mỹ M, anh Phan Hữu L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện B; - UBND xã PT, huyện L, tỉnh Bạc Liêu; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ; VT. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Phạm Kim Cương |