vanban.org

Bản án 99/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Diễm H và anh Võ Văn Tuấn A. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 99/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-9-2023
“V/v Ly hôn giữa chị H và anh Tuấn A”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên và bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 2001

Địa chỉ: Ấp T, xã Thạnh B, huyện G, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Võ Văn Tuấn A, sinh năm 1996

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Nguyễn Thị Diễm H trình bày như sau:

Chị Nguyễn Thị Diễm H (gọi tắt là chị H) và anh Võ Văn Tuấn A (gọi tắt là anh Tuấn A) chung sống với nhau vào năm 2019 hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 14/12/2020.

Vợ chồng chung sống được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Tuấn A thay đổi tính tình nghe lời cha mẹ và anh chị em ruột không phân biệt phải trái để bảo vệ vợ con, tiền bạc làm ra thì giao cho gia đình quản lý trong khi cha mẹ chồng rất khó khăn với con dâu. Vì thương con chị H đã cố gắng chịu đựng mong anh Tuấn A thay đổi nhưng không có kết quả nên chị H đã quyết định về nhà cha mẹ ruột sống ly thân với anh Tuấn A khoảng hai năm nay. Trong thời gian vợ chồng ly thân anh Tuấn A không liên lạc hay tới lui thăm vợ con và hiện vợ chồng chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị Hxin được ly hôn với anh Tuấn A.

Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có một con chung tên Võ Ngọc A1, sinh ngày 11/11/2020 hiện đang sống chung với chị H. Khi ly hôn chị H xin được quyền nuôi con chung cháu Võ Ngọc A1 và không yêu cầu anh Tuấn A phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Võ Văn Tuấn A vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm H.

Chứng cứ đã thu thập: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (Bản công chứng); giấy khai sinh của con chung vợ chồng; Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn anh Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn với anh Tuấn A về con chung giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không có yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa anh Võ Văn Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh Tuấn A.

Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Chị H yêu cầu ly hôn với anh Tuấn A và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Chị H và anh Tuấn A chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Tuấn A vắng mặt đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H. Qua lời trình bày của chị H thì anh chị chung sống phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Tuấn A không thấu hiểu và chia sẻ với vợ trong cuộc sống sinh hoạt gia đình, về phía gia đình chồng có nhiều khó khăn với con dâu từ đó chị H phải bỏ về nhà cha ruột sống ly thân với anh Tuấn A khoảng hai năm nay. Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương cũng xác định giữa vợ chồng chị H và anh Tuấn A đã xảy ra mâu thuẫn bất hòa do các thành viên trong gia đình không có sự hòa hợp. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên hòa giải để hòa giải đoàn tụ nhưng anh Tuấn A không đến hòa giải đoàn tụ, không thể hiện thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị được ly hôn với anh Tuấn A.

Về con chung: Chị H và anh Tuấn Acó một người con chung là cháu Võ Ngọc A1, sinh ngày 11/11/2020 hiện đang sống chung với chị H. Do cháu Võ Ngọc A1 còn nhỏ và đã quen sống với mẹ từ khi cha mẹ ly thân và hiện nay chị H có việc làm thu nhập đủ để đảm bảo cho con có cuộc sống sinh hoạt bình thường nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Võ Ngọc A1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị H không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị H là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Diễm H và anh Võ Văn Tuấn A.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc A1, sinh ngày 11/11/2020 cho chị Nguyễn Thị Diễm H nuôi dưỡng sau khi chị Nguyễn Thị Diễm H và anh Võ Văn Tuấn A ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị Nguyễn Thị Diễm H không yêu cầu anh Võ Văn Tuấn A cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004018 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Nguyễn Thị Diễm H đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ