vanban.org

Bản án 99/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Anh D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2022/HS-ST
Ngày 27/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Hoa Hằng và bà Võ Thị Trúc Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2022; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số ngày 26/9/2022 đối với bị cáo:

Bùi Anh D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 27/12/1998 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố X, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Bùi Hữu T; Con bà: Nguyễn Thị L; Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 02/8/2021, bị Uỷ ban nhân dân phường Y, thành phố Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường số 503/QĐ-UBND về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 02/8/2021 đến 02/11/2021;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị từ ngày 02/6/2022 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/6/2022, Bùi Anh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm sát 74C1-483.44 đến khu vực đường Bùi Dục T (thuộc khu phố A, phường B, thành phố Đ) gặp người phụ nữ tên Nh (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua được 04 viên ma tuý hồng phiến với giá 150.000 đồng (số ma tuý được gói trong 01 mảnh nilong trong suốt). Sau khi có ma túy, Dcầm tại tay trái rồi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến cầu vượt đường sắt (thuộc khu phố C, phường D, thành phố Đ) thì bị Công an thành phố Đông Hà phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 04 viên ma túy nói trên.

*Vật chứng thu giữ:

- 01 mảnh nilong trong suốt, bên trong có chứa 04 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY;

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 74C1-483.44, số khung RLHJA36929MY231025, số máy JA39E2350543, đã qua sử dụng;

Tại bản kết luận giám định số 659/KLGĐ ngày 15/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 04 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY đựng trong túi niêm phong, mã số PS32150951 gửi đến giám định có khối lượng 0,3911 gam là ma túy loại Methamphetamine;

Cáo trạng số 98/CT-VKSĐH ngày 09/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Bùi Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Anh D từ 14 đến 16 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 74C1-483.44, số khung RLHJA36929MY231025, số máy JA39E2350543.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/6/2022, Bùi Anh D có hành vi mua 04 viên ma tuý hồng phiến với giá 150.000 đồng. Sau khi có ma túy, D cầm tại tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an thành phố Đông Hà phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 04 viên ma túy nói trên. Khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,3911 gam ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “…Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Hiện nay trên địa bàn thành phố Đ, tệ nạn ma túy đang diễn biến phức tạp, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, ngăn chặn tệ nạn ma túy xâm nhập vào đời sống cộng đồng, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS32150951, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chử ký của những người tham gia niêm phong. Ma túy là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 74C1-483.44, số khung RLHJA36929MY231025, số máy JA39E2350543 của bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma túy mục đích để sử dụng, nên cần trả lại cho bị cáo.

Về các vấn đề liên quan khác trong vụ án: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được danh tính, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Anh D 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS32150951, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chử ký của những người tham gia niêm phong.

+ Trả lại cho bị cáo Bùi Anh D 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 74C1-483.44, số khung RLHJA36929MY231025, số máy JA39E2350543.

Các vật chứng trên có đặc điểm như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà. Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Bùi Anh D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ