vanban.org

Bản án 99/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 99/2022/HS-ST
Ngày 26 - 8 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Lợi và bà Hoàng Thị Phụng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXX-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 11/8/1981; nơi sinh tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn ĐH, xã VN, huyện KX, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tvà bà Lại Thị Ch; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 208/QĐ/XPVPHC ngày 23/10/2008 của Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý;

- Quyết định đưa người vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số 116/QĐ-UBND ngày 29/01/2010 của UBND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 01/02/2011;

- Quyết định đưa người vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số 858/QĐ-CT ngày 11/5/2012 của UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 26/4/2013;

- Quyết định đưa người vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số 2383/QĐ-CT ngày 13/8/2013 của UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 29/7/2014;

- Bản án số 26/2017/HSST ngày 22/02/2017 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2018, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/4/2017;

- Bản án số 105/2018/HS-ST ngày 27/7/2018 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/12/2019, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/9/2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/4/2022, tạm giam từ ngày 30/4/2022 đến nay, trích xuất, có mặt.

* Người chứng kiến:

- Ông Vũ Đình Y, sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà A/B, ngõ C, tổ D, phường TL, thành phố TB, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).

- Ông Vũ Văn D, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số nhà D, tổ Đ, phường TL, thành phố TB, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 27/4/2022, tại khu vực bãi đất trống, đường Trần Lãm, thuộc khu vực tổ 14, phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, phát hiện bị cáo Nguyễn Văn Đ có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma tuý nên yêu cầu bị cáo dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, bị cáo Đ đã tự giác giao nộp 02 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng từ lòng bàn tay trái của bị cáo cho tổ công tác, tổ công tác mở kiểm tra bên trong 02 gói có chứa chất bột màu trắng dạng cục nên đã niêm phong lại. Bị cáo khai nhận đó là ma tuý loại Hêrôin, nguồn gốc là trước đó khoảng 08 giờ cùng ngày bị cáo mua giá 200.0000 đồng của một người nữ giới không biết tên, địa chỉ, tại đường Trần Lãm thuộc khu vực phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã yêu cầu bị cáo và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác kiểm tra trên người bị cáo Đ và xe đạp do bị cáo điều khiển nhưng không phát hiện, thu giữ tài sản, đồ vật gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản kết luận giám định số 142/KL-KTHS(MT) ngày 28/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Văn Đ gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,2525 gam (không phẩy hai nghìn năm trăm hai mươi lăm gam)“.

Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến: Ông Vũ Đình Y, ông Vũ Văn D đều khai phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo ngày 27/4/2022.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 102/CT - VKSTPTB ngày 07/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án nên khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/4/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 xe đạp mini, màu xanh đã cũ.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vì vậy bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo, người chứng kiến không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định; Lời khai của những người chứng kiến; cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 27/4/2022, tại khu vực bãi đất trống, đường Trần Lãm, thuộc khu vực tổ 14, phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép tại lòng bàn tay trái của bị cáo 02 gói ma tuý, loại Hêrôin, có khối lượng 0,2525 gam mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bắt quả tang. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, lẽ ra bị cáo phải nhận thức rõ các tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo phù hợp với dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) ...;b) ...; c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện thực hiện hành vi phạm tội là để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng bị cáo có nhân thân xấu: 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 03 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và 02 lần bị Toà án áp dụng hình phạt tù đều liên quan đến sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cần xem xét khi lượng hình; song, cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên khi quyết định hình phạt bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của 01 người nữ giới không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Hêrôin thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về tài sản khác: Đối với 01 xe đạp mini, màu xanh quản lý của bị cáo Định, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại xe đạp cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/4/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Hêrôin thu của bị cáo Nguyễn Văn Đ hoàn lại sau giám định và bao gói.

4. Tài sản khác: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe đạp mini, màu xanh.

5. Vật chứng và tài sản khác có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27/4/2022, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/7/2022 giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.

6. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/8/2022.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ