- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2022/HS-ST Ngày: 28-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Hải
Bà Trần Nguyệt Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Trương Văn T, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2001 tại Phú Yên; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn N, xã C, huyện A, tỉnh Y; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương T; con bà: Trần Thị L; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chung Diệu H, sinh năm 1960 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Chung Tú C, sinh năm 1963; Nơi cư trú: 16 đường G, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1979; Nơi cư trú: 19 Đường số 43, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1974;Nơi cư trú: 19 Đường số 43, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 17/12/2021, Trương Văn T điều khiển xe mô tô biển số 59C1-826.40 lưu thông trên đường Hùng Vương (hướng từ đường Nguyễn Duy Dương về đường Ngô Quyền). Khi đến giao lộ Hùng Vương - Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, T dừng xe ở làn xe ô tô (làn thứ 3) và phía sau một chiếc xe ô tô khác để chờ đèn tín hiệu. Khi đèn tín hiệu bật xanh, T cho xe lưu thông thẳng qua giao lộ (vẫn lưu thông ở làn xe ô tô – làn thứ 3) với tốc độ khoảng từ 20km/h đến 30km/h. Khi gần đến trước trụ đèn số 23 đường Hùng Vương (bên hông nhà số 223 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5) T cho xe lách sang phải để vượt xe ô tô thì xảy ra va chạm với ông Chung Diệu H đang dẫn bộ xe đạp băng qua đường phía trước (hướng từ trái qua phải theo chiều các phương tiện lưu thông), làm cho xe mô tô, xe đạp và cả T và ông H cùng ngã xuống đường. Sau vụ tai nạn, T bị xây xát tay chân, còn ông H bị thương ở đầu. T đã bế ông H vào bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Quận 5 để cấp cứu và quay lại hiện T đợi Công an đến lập hồ sơ xử lý. Xe mô tô biển số 59C1-826.40 và xe đạp bị hư hỏng. Đến 03 giờ 30 phút ngày 18/12/2021, ông H tử vong tại bệnh viện.
Tại cơ quan điều tra, Trương Văn T khai nhận vụ việc tai nạn giao thông trên và có giấy phép lái xe hạng A1 khi điều khiển xe mô tô.
Qua công tác khám nghiệm hiện T và kết quả điều tra cho biết:
1. Mô tả hiện T chung nơi xảy ra tai nạn: Đường Hùng Vương được trải nhựa bằng phẳng, áp dụng cho 01 chiều xe lưu thông, được chia làm 03 làn xe lưu thông, bề rộng mỗi làn đường lần lượt từ phải sang trái là 3,00m; 3,30m; 3,80m. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, trước trụ đèn số 23 trên đường Hùng Vương (bên hông dãy nhà số 223 Nguyễn Tri Phương), Phường 9, Quận 5.
2. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:
- Vết cày xe mô tô biển số 59C1- 826.40: Dấu vết cày đo vào lề chuẩn: 6,50 mét; Chiều dài vết cày: 0,2 mét.
- Vị trí xe mô tô biển số 59C1 – 826.40: Xe ngã về bên phải, nằm dưới lòng đường, đầu xe hướng về đường Ngô Quyền, đuôi xe hướng về đường Nguyễn Tri Phương.
+ Tâm trục bánh trước đo vào lề chuẩn 6,80 mét;
+ Tâm trục bánh sau đo vào lề chuẩn: 6,30 mét;
- Vết cày xe đạp: Đầu vết cày đo vào lề chuẩn: 7,10 mét và đo vào đầu vết cày xe mô tô biển số 59C1 – 826.40: 0,80 mét; Chiều dài vết cày: 2,00 mét.
- Vị trí xe đạp: Xe ngã về bên trái, nằm dưới lòng đường. Đuôi xe hướng về đường Ngô Quyền, hơi chếch về bên phải, đuôi xe hướng về đường Nguyễn Tri Phương.
+ Tâm trục bánh trước đo vào lề chuẩn: 6,50 mét;
+ Tâm trục bánh sau đo vào lề chuẩn: 7,00 mét và đo vào tâm trục bánh trước xe mô tô 59C1 – 826.40: 0,60 mét.
- Vết máu nạn nhân: Tâm vết máu đo vào lề chuẩn: 6,30 mét và đo vào tâm trục bánh trước xe đạp: 0,60 mét; Kích thước vết máu: 0,30m x 0,20m,
- Điểm mốc: Trụ đèn số 23 trên vỉa hè lề chuẩn, bên hông dãy nhà số 223 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5: Điểm gần nhất đo ra lề chuẩn: 0,30m; Điểm gần nhất đo ra tâm trục bánh sau xe mô tô 59C1-826.40: 6,80m.
Tiến hành khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:
1. Kết quả khám xe mô tô biển số 59C1 – 826.40: Giỏ xe mô tô phía trước xe bị biến dạng kim loại theo chiều hướng từ ngoài vào trong không rõ hình dạng, kích thước: 12 x 2cm; Dè trước xe mô tô: phần đầu bị gãy, tách rời một phần phía trước, kích thước: 7x5cm; Lốp bánh trước xe mô tô bị trầy xước cao su mặt ngoài bên trái có kích thước: 60 x 4 cm; Gác chân bên trái phía trước xe mô tô bị biến dạng theo chiều hướng từ trước về sau có kích thước 4,5 x 1,5cm; Thắng chân trước xe máy bị trầy xước kim loại có kích thước: 1,5x0,5cm.
2. Kết quả khám xe đạp: Cổ tay lái bị lệch một góc 200 độ từ phải sang trái so với vị trí ban đầu; Yên xe đạp phía trước bị lệch một góc 300 độ từ phải sang trái so với vị trí ban đầu; Ốp kim loại chắn xích xe đạp bị cong vênh theo chiều hướng từ ngoài vào trong có kích thước 80 x 15cm; Niềng xe đạp phía sau có dấu vết ma sát cao su màu đen có kích thước 30 x 2cm.
Tại Bản kết luận giám định số 767/KL-C09B ngày 23/2/2022 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định có nội dung như sau:
- Dấu vết trượt xước sạch bụi mặt ngoài bên trái bánh trước xe mô tô biển số 59C1–826.40 có chiều từ mặt lăn vào tâm, ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết phía sau bên trái xe đạp (trượt xước bám chất màu đen mặt ngoài bên phải bánh sau, cong biến dạng ốp bảo vệ xích tải) có chiều từ sau về trước, từ phải sang trái. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường thuộc làn ngoài (làn 3,8m) đường Hùng Vương theo hướng từ đường Nguyễn Tri Phương đi Ngô Quyền.
- Khi xảy ra tai nạn, xe mô tô biển số 59C1–826.40 chuyển động trên đường Hùng Vương theo hướng từ đường Nguyễn Tri Phương đi Ngô Quyền, xe đạp có hướng lưu thông phía trước, chếch từ trái sang phải theo chiều chuyển động của xe mô tô.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 59C1 – 826.40 khi xảy ra tai nạn.
Kết quả xác minh tại Trung tâm quản lý hạ tầng giao thông đô thị Thành phố Hồ Chí Minh xác định vị trí xảy ra tai nạn giao thông trước trụ đèn 23 Hùng Vương (bên hông nhà số 223 Nguyễn Tri Phương) nằm trong đoạn từ đường Nguyễn Tri Phương đến Cây xanh số 224 được tổ chức các phương tiện lưu thông theo biển gộp làn đường theo phương tiện - Biển số R.415a, cụ thể:
+ Làn đường bên trái ngoài cùng: Các loại xe ô tô;
+ Làn đường giữa: Xe mô tô, xe ô tô con, xe khách;
+ Làn đường bên phải(sát vỉa hè): Các loại xe 02 – 03 bánh.
- Tốc độ tối đa cho phép đối với xe mô tô và xe đạp tham gia giao thông trong khu vực đông dân cư Theo Điều 6 và Điều 8 Chương II của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.
Kết quả xác minh tại Trung tâm Quản lý điều hành giao thông đô thị Thành phố Hồ Chí Minh được biết: Tại giao lộ Hùng Vương - Nguyễn Tri Phương, dữ liệu camera không ghi nhận được diễn biến tai nạn.
Kết quả xác minh tại Công an Phường 9, Quận 5 được biết: bên hông nhà số 223 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5 có camera quan sát nhưng chỉ quan sát được trên lề đường.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 50-22/KLGĐ-PY ngày 21/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Nguyên nhân chết: Chung Diệu H chết do chấn thương sọ não. Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy.
Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương ở vùng đầu do tiếp xúc với vật tày gây ra. Là tổn thương sọ não theo cơ chế hỗn hợp (cơ chế tác động trực tiếp vào đầu di động) gây ra. Nguyên nhân chết của nạn nhân là chấn thương sọ não, tai nạn giao thông có thể dẫn đến nguyên nhân này. Các tổn thương xây xát da, bầm tụ máu và mài mòn da còn lại trên tử thi do vật tày tác động trực tiếp gây ra. Không đủ cơ sở trả lời điểm va chạm vào cơ thể nạn nhân.
Về vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số: 59C1-826.40, số máy H050113840, số khung: 0601WY113845; 01 (một) xe đạp dạng mini, màu nâu; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59C1-826.40, có số 047058 (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án); 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, có số 540200001459 (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Văn T đã hỗ trợ bồi thường cho gia đình ông Chung Diệu H số tiền 100.000.000 đồng, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho Trương Văn T.
Bản cáo trạng số: 72/CTr-VKS ngày 11/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Văn T với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật; về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Văn T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nữa nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện T nơi xảy ra tai nạn giao thông, sơ đồ hiện T vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm tử thi, Bản kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trương Văn T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 59C1-826.40 là nguồn nguy hiểm cao độ, khi đến giao lộ Hùng Vương - Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, T dừng xe ở làn xe ô tô (làn thứ 3) và phía sau một chiếc xe ô tô khác để chờ đèn tín hiệu. Khi đèn tín hiệu bật xanh, T cho xe lưu thông thẳng qua giao lộ và do không chú ý quan sát khi gần đến trước trụ đèn số 23 đường Hùng Vương đã xảy ra va chạm với ông Chung Diệu H đang dẫn bộ xe đạp băng qua đường phía trước. Hành vi của Trương Văn T đã vi phạm khoản 4 Điều 11 và điểm b khoản 3 Điều 30 của Luật Giao thông đường bộ. Tai nạn xảy ra làm ông Chung Diệu H chết, theo kết luận giám định pháp y tử thi số 50-20/KLGĐ-PY ngày 21/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận nguyên nhân chết của Chung Diệu H là do chấn thương sọ não. Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức đầy đủ hành vi của mình, biết việc điều khiển xe mô tô khi lưu thông trên đường mà không chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, không lường trước được hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, tại nạn giao thông dẫn đến làm chết một người. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo T đã bồi thường gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và người bị hại cũng có một phần lỗi, mới phạm tội lần đầu nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; trong thời gian được tại ngoại luôn chấp hành các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì; có hoàn cảnh khó khăn và đang có việc làm ổn định nuôi sống bản thân và gia đình, có nơi ở rõ ràng; phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được đại diện hợp pháp bị hại có đơn bãi nại nên không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà xem xét cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định Điều 65 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội có hoàn cảnh khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho phía gia đình bị hại với số tiền 100.000.000 đồng và phía người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) xe mô tô hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số: 59C1-826.40, số máy H050113840, số khung: 0601WY113845; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59C1-826.40, có số 047058 (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án) do ông Nguyễn Đức Chính đứng tên chủ sở hữu, ông Chính đã giao lại cho bà Nguyễn Thị Thu Dung sử dụng sau khi ly hôn, bà Dung giao cho bị cáo T sử dụng làm phương tiện đi giao nhận hàng hóa nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59C1-826.40, có số 047058 trên cho bà Dung.
Xét 01 (một) xe đạp dạng mini, màu nâu là tài sản của ông Chung Diệu H nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông H thông qua người đại diện hợp pháp của ông H là bà Chung Tú Chi.
Xét 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, có số 540200001459 (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án) là giấy tờ cá nhân của bị cáo T nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, tỉnh Y giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong T hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 12/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi chấp hành án.
Căn cứ Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu D: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số: 59C1-826.40, số máy H050113840, số khung: 0601WY113845; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59C1-826.40, có số 047058 (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).
Trả lại cho bà Chung Tú C: 01 (một) xe đạp dạng mini, màu nâu.
Trả lại cho bị cáo Trương Văn T: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, có số 540200001459 (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 08 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
(Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5; - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5; - Phòng PV 06 – Công an TPHCM; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |