- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99 /2022/ HS-ST Ngày 16- 8 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hưng,
Ông Thái Văn Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến với hai điểm cầu: (1).Điểm cầu trung tâm: Tại phòng xét xử số 1, Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An.(2) Điểm cầu thành phần: 01 điểm cầu tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An.
Đối với vụ án hình sự thụ lý số 95/2022/TLST- HS, ngày 01 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 07 tháng 8 năm 1992 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng L (đã chết) và bà Thái Thị X, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Thái Thị X, sinh năm 1963. Có mặt.
Địa chỉ cư trú: Xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
+ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995. Có mặt.
Địa chỉ cư trú: Xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Người chứng kiến:
+ Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1971.Vắng mặt.
Địa chỉ cư trú: Xóm 1, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
+ Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1960. Vắng mặt.
Địa chỉ cư trú: Xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/4/2022 khi Nguyễn Văn C đang ở nhà của mình tại xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An, thì có số điện thoại 0977.158.232 gọi điện thoại đến số 0349.105.427 của Nguyễn Văn C. Qua điện thoại người có số thuê bao nói tên tự xưng tên là H (C không quen biết với người này), có hỏi C “Có hàng không lấy cho một gờ” nghĩa là người tên H nhờ C mua giúp cho 01 gam ma túy, thì C trả lời “Có lấy năm hộp năm thì lấy chứ một gờ hết rồi” nghĩa là C nói với người này là có lấy ma túy tổng hợp được đóng gói năm gam thì lấy chứ một gam ma túy hết rồi. H đồng ý lấy 01 (một) gói 5 gờ khoảng 5 gam ma túy với giá 3.500.000 đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng). Nguyễn Văn C và H thống nhất sẽ giao ma túy và tiền tại khu vực Nghĩa Trang xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi trao đổi với người tên H xong, Nguyễn Văn C sử dụng điện thoại của mình gọi vào số thuê bao 0386.003.574 của Nguyễn Đăng L sinh năm 1991, trú tại xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Qua điện thoại Nguyễn Văn C hỏi Nguyễn Đăng L “Anh có đá không lấy cho em một hộp 5” nghĩa là C muốn mua của L 05 gam ma túy, L bảo tắt máy chờ một lát gọi lại. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Đăng L gọi lại cho C bảo là có ma túy rồi, giá 3.300.000đ (ba triệu ba trăm ngàn đồng), rồi hẹn C đến đoạn đường gần nhà của L để lấy ma túy. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu đỏ biển kiểm soát 37P1-15085, là xe C mượn của Nguyễn Văn N sinh năm 1995, trú tại xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Khi mượn xe C nói là mượn để đi công việc, nên Nhạc không biết C sử dụng xe để đi mua bán ma túy. Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô đến khu vực gần nhà của Nguyễn Đăng L thì thấy L đi đến đưa cho C 01 (một) gói ma túy. Nhận được ma túy, C hẹn với L sẽ trả tiền sau, thì L đồng ý. Nguyễn Văn C bỏ ma túy vừa mua được vào túi quần đang mặc, rồi điều khiển xe đến khu vực đã hẹn với người tên H để giao ma túy. Khi đang đi trên đoạn đường thuộc xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y thì bị tổ công tác Công an xã Công Thành, Công an xã Lý Thành phối hợp với Công an xã Minh Thành, huyện Y, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng trong vụ án: Thu giữ của Nguyễn Văn C 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong có chứa 4,91 g (bốn phẩy chín mươi mốt gam) ma túy (Methamphetamine), đã lấy 0,1 g (không phẩy một gam) đi giám định, không hoàn lại, còn lại 4,81 g (bốn phẩy tám mươi mốt gam) cùng phong bì niêm phong vật chứng; 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen bên trong có gắn sim 0349.105.427; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu đỏ biển kiểm soát 37P1-15085. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho tang vật Công an huyện Y, chờ xử lý theo quy định pháp luật.
Ngày 29/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Đăng L, sinh năm 1991 tại xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhưng không phát hiện, thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 576/KL-KTHS (D2-MT) ngày 06/5/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn C gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Các hạt tinh thể màu trắng (01 gói) thu giữ của Nguyễn Văn C có khối lượng 4,91 g (bốn phẩy chín mươi mốt gam)”.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn C là Nguyễn Đăng L hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không ai biết nên khi nào xác định và làm rõ được sẽ xử lý sau.
Đối tượng phụ nữ tự xưng tên là H có số điện thoại 0977.158.232 gọi điện thoại đến số 0349.105.427 của Nguyễn Văn C hỏi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An đã tiến hành điều tra nhưng đến nay chưa xác định được lai lịch, địa chỉ của H nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào xác định và làm rõ được sẽ xử lý sau.
Bản cáo trạng số 102/CT-VKS-YT ngày 27/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện vào ngày ngày 28/4/2022 tại khu vực xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y là đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ bị cáo 28/4/2022. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý thu giữ của bị cáo còn lại sau khi đã lấy mẫu đi giám định (mẫu giám định không hoàn lại);
- Trả lại cho bà Thái Thị M 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen bên trong có gắn sim 0349.105.427; Trả lại cho anh Nguyễn Văn N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu đỏ biển kiểm soát 37P1-15085.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đề nghị được nhận lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo biết sai, đã nhận thức và ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi và quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung nhận định của Hội đồng xét xử về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án.
Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/4/2022; kết luận giám định số 576/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 06/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Vào hồi 13 giờ 15 phút ngày 28/4/2022 tại khu vực xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an các xã Công Thành, Lý Thành phối hợp với Công an xã Minh Thành đã tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 4,91 (bốn phẩy chín mươi mốt) gam nhằm mục đích bán lại cho người khác để hưởng lợi bằng tiền thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Xét thấy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước ta, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng không bằng sức lao động của mình đã thực hiện hành vi mua, bán ma túy cho người khác để thu lợi bất chính. Bị cáo là người tàng trữ trái phép chất ma túy thông qua việc trực tiếp giao dịch với người bán ma túy và người mua ma túy nhằm mục đích vụ lợi (bán kiếm lời: Bị cáo mua ma túy với giá 3.300.000 đồng nhưng bán với giá 3.500.000 đồng). Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự với mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy là chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng 4,91 (bốn phẩy chín mươi mốt) gam của bị cáo nhằm mục đích bán lại cho người khác để hưởng lợi bằng tiền gây mất trật tự, trị an trên địa bàn và thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa, làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần cho bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[2.3.] Về hình phạt bổ sung:
Theo qui định ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lại là người nghiện ma túy và không có tài sản riêng. Do đó hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc hình phạt khác đối với bị cáo.
[2.4.] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong có chứa 4,91 g (bốn phẩy chín mươi mốt gam) ma túy (Methamphetamine), đã lấy 0,1 g (không phẩy một gam) đi giám định, không hoàn lại, còn lại 4,81 g (bốn phẩy tám mươi mốt gam) cùng phong bì niêm phong vật chứng. Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen, số IMEI: 350618547670856, bên trong có gắn sim 0349.105.427, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Thái Thị X (mẹ đẻ của bị cáo), bị cáo sử dụng liên lạc để mua, bán ma túy là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội. Lẽ ra cần tịch thu sung quĩ nhà nước nhưng xét thấy việc bị cáo sử dụng mua bán trái phép chất ma túy bà Xuân không biết, quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Xuân yêu cầu trả lại để sử dụng nên cần trả lại cho bà Xuân.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu đỏ biển kiểm soát 37P1-150.85 đã qua sử dụng có số khung: DY-017114, số máy: 1FC-017133 là tài sản của anh Nguyễn Văn N dùng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Bị cáo đã dùng chiếc xe này vào việc phạm tội tuy nhiên anh Nhạc không biết và không có lỗi trong việc để cho bị cáo sử dụng vào thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp theo qui định của pháp luật.
[2.5.] Về những vấn đề khác:
Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn C là Nguyễn Đăng L sinh năm 1991, trú tại xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại L không có mặt tại địa phương, không xác định được đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối tượng phụ nữ tên là H có số điện thoại 0977.158.232 gọi điện thoại đến số 0349.105.427 của Nguyễn Văn C hỏi mua ma túy. Sau khi C và H thống nhất số lượng ma túy, giá cả và địa điểm giao ma túy thì C thực hiện giao dịch mua bán ma túy với Nguyễn Đăng L thành công nhưng C chưa giao được ma túy cho H thì bị phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An đã tiến hành điều tra nhưng đến nay chưa xác định được lai lịch, địa chỉ của H nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào xác định và làm rõ được sẽ xử lý sau.
[3.] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
[4.] Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm:
Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/4/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã được niêm phong bên trong chứa 4,81(bốn phẩy tám mươi mốt) gam các hạt tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) cùng vỏ giấy bao bì ban đầu theo biên bản giao ngày 29/7/2022.
- Trả lại cho Bà Thái Thị X, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: Xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen, số IMEI: 350618547670856, bên trong có gắn sim 0349.105.427, điện thoại đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Xóm 4, xã Minh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu đỏ biển kiểm soát 37P1-150.85 đã qua sử dụng có số khung: DY-017114, số máy: 1FC-017133.
Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y quản lý. Chi tiết vật chứng khi thi hành án thực hiện theo biên bản giao nhận vật chứng và các phiếu nhập kho đề cùng ngày 29/7/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an Nghệ An; - Viện kiểm sát nhân dân h. Y; - Công an huyện Y; - Chi cục THADS Y; - THA hình sự; - Bị cáo, Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Phú |