- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2021/HS-ST Ngày: 16-7-2021 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Huy Luận
2. Bà Nguyễn Thị Bội Nhu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
---------------------------------------------
Ngày 16 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 156/2021/QĐXXST-HS ngày 02/7/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn C - sinh ngày 26/8/2001 tại Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở tại thôn H, xã M, huyện B, tỉnh T; Nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T , sinh năm 1978 và bà Bùi Thị P, sinh năm 1983, cùng nơi cư trú tại thôn H, xã M, huyện B, tỉnh T; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: ông Phạm Tấn D, sinh năm 1994 (chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Huỳnh Thị Kim A –sinh năm 1965 là mẹ của ông Phạm Tấn D (có mặt)
Địa chỉ: khu phố 15, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Bùi Thị P, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: thôn H, xã M, huyện B, tỉnh T.
+ Ông Huỳnh Ngọc P1 – sinh năm 1998(có mặt)
Địa chỉ: khu phố M, phường N, thành phố T, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/11/2020, Nguyễn Tấn C tự ý lấy xe mô tô biển số 86B3 – 746.11 của mẹ ruột là bà Bùi Thị P điều khiển xe đến nhà bạn ở xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc để chơi. Tại đây, C có uống rượu cùng với bạn của C, đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/11/2020, sau khi uống rượu xong, C điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Nguyễn Đình Chiểu theo hướng từ Hàm Tiến đi Mũi Né để hóng mát. Khi C đi đến phường Mũi Né thì C điều khiển xe quay lại để về trung tâm thành phố Phan Thiết. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi C điều khiển xe mô tô đến đoạn đường trước số nhà 135 đường Nguyễn Đình Chiểu tại khu phố 1, phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết thì C phát hiện phía trước xe của C có 01 xe ô tô (không rõ biển số) đang lưu thông chạy cùng chiều. Do muốn vượt lên trước chiếc xe ô tô trên nên C điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển, tăng tốc vượt lên phía bên trái của xe ô tô thì bất ngờ đâm trực diện vào xe mô tô biển số 86C1 – 863.90 do ông Phạm Tấn D điều khiển chở theo sau ông Huỳnh Ngọc P1 đang lưu thông theo hướng ngược lại, gây tai nạn giao thông.
Hậu quả: Sau tai nạn, ông Phạm Tấn D tử vong tại hiện trường, bị cáoNguyễn Tấn C và ông Huỳnh Ngọc P1 bị thương nhẹ, hai xe bị hư hỏng. Sau đó, C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều - Công an thành phố Phan Thiết để trình diện và khai báo toàn bộ hình vi nêu trên.
Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông Nguyễn Tấn C chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 22 giờ ngày 21/11/2020 tại đường Nguyễn Đình Chiểu thuộc khu phố 1, phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết phát hiện các dấu vết sau:
Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Hiện trường không còn nguyên vẹn do người dân vào hiện trường đưa các nạn nhân đi cấp cứu và phương tiện giao thông qua lại, tại hiện trường chỉ còn lại một tử thi và hai phương tiện giao thông. Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 8m60, giữa tim đường có vạch sơn trắng đứt đoạn liên tục chia mặt đường thành hai phần đường ngược chiều nhau. Phân đường bên phải theo hướng đi phường Mũi Né rộng 4m40. Hai bên đường có nhiều nhà dân sinh sống và có hệ thống đèn đường chiếu sáng.
- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Xe mô tô 86B3-746.11 (ký hiệu số 01), xe mô tô 86C1-863.90 (ký hiệu 02), vết máu, kích thước (40x30)cm (ký hiệu là M), vùng mảnh vỡ nhựa, kích thước 2m30 x 1m90 (ký hiệu là MV), tử thi (ký hiệu là T).
- Lấy mép trụ cổng bên phải nhà số 135 Nguyễn Đình Chiểu làm mốc cố định, lấy mép đường bên phải theo hướng đi phường Mũi Né làm chuẩn để tiến hành đo đạc, ghi nhận số liệu, lấy hướng đi từ phường Phú Hài đến phường Mũi Né làm hướng để khám nghiệm.
- Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
+ Nhà số 135 Nguyễn Đình Chiểu nằm trong lề đường trái theo hướng đi Mũi Né, trụ cổng trái cách mép đường trái khoảng cách là 4m70;
+ Từ trụ cổng bên phải của nhà số 135 Nguyễn Đình Chiểu kéo một đường thẳng sang phải ra phần đường bên phải theo hướng đi Mũi Né 29m50 là vị trí gót chân phải của tử thi (T) nằm ngữa, đầu quay về hướng đi Phú Hài, hai chân duỗi thẳng quay về hướng đi Mũi Né, hai tay co ngang bụng, đầu và gót chân phải cách mép đường phải khoảng cách lần lượt là 70cm và 1m;
+ Xe mô tô 86C1-863.90 kí hiệu số (2) nằm trong phần đường bên phải theo hướng đi Mũi Né. Xe (2) đang trong tư thế dựng, đầu xe quay về hướng đi Phú Hài, đuôi xe quay về hướng đi Mũi Né. Tâm trục bánh xe trước và tâm trục bánh xe sau của xe số (2) cách mép đường phải khoảng cách lần lượt là 1m50 và 1m80, tâm trục bánh xe sau của xe số (2) cách gót chân phải của tử thi (T) khoảng cách là 60cm;
+ Từ vị trí tâm trục bánh xe trước của xe số (2) về hướng Phú Hài và chếch ra tim đường 50cm là vị trí tâm trục bánh xe sau của xe mô tô 83B3-746.11. Kí hiệu số (1), xe số (1) đang trong tư thế dựng trong phần đường bên phải đi hướng Mũi Né, đầu xe quay về hướng Phú Hài, đuôi xe quay về hướng Mũi Né. Tâm trục bánh xe trước và tâm trục bánh xe sau của xe số (1) cách mép đường phải khoảng cách lần lượt là 2m20 và 2m;
+ Phía trước đầu xe số (1) và vị trí mảnh vỡ nhựa kích thước 2m30x1m90, tâm vết vùng mảnh vỡ nhựa cách mép đường bên phải và tâm trục bánh xe trước của xe số (1) khoảng cách lần lượt là 2m20x10cm;
+ Từ vị trí tâm trục bánh xe trước của xe số (1) về hướng đi Mũi Né và chếch sang trái trái 1m70 là vị trí vết máu (M) có kích thước (40x30)cm. Tâm vết máu (M) cách mép đường phải là 3m80
Kết quả khám phương tiện xe mô tô biển số 86B3-746.11 (do Nguyễn Tấn C điều khiển) sau tai nạn ghi nhận các dấu vết, đặc điểm sau:
+ Mặt nạ trước bên trái bị nứt vỡ có kích thước (20x32)cm;
+ Khớp nối của mặt nạ trước bị bể vỡ rời khỏi vị trí ban đầu;
+ Toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng trước, đèn chuyển hướng phải trái bị bể vỡ, bung rời khỏi vị trí ban đầu;
+ Bửng chắn gió bên phải và bên trái bể vỡ toàn bộ;
+ Dè chắn bùn trước của bánh xe trước có vết nứt vỡ nhựa kích thước (29x11) cm;
+ Hai phuộc trước bị đẩy lệch từ trước ra sau, từ phải sang trái;
+ Ốp kim loại bên trái phuộc bị gãy vỡ kim loại có kích thước (7x4) cm;
+ Mâm trước bị gãy rời cong đẩy từ ngoài vào trong, kích thước (20x4) cm. Tâm vết cách chân van theo chiều quay bánh xe 20 cm;
+ Ốp nhựa phía trước khung sườn xe bị bể vỡ bung rời khỏi vị trí ban đầu, kích thước (40x50) cm;
+ Ốp nhựa trước bên trái sườn xe trước có vết vỡ nhựa kích thước (50x33) cm;
+ Gác chân trước bên trái bị vỡ nhựa, kích thước (10x47) cm, ốp nhựa phía dưới gác chân trước bị bung rời khỏi vị trí ban đầu;
+ Gương chiếu hậu bên trái bị bung rời mất, gộng kim loại của gương chiếu hậu bị đẩy lệch từ trước ra sau;
+ Đầu núm nhựa tay nắm bên phải có vết chà mòn nhựa nham nhở kích thước (3x2) cm;
+ Mặt sau phía dưới gác chân sau bên phải có vết chà mòn kim loại, kích thước (1x1) cm;
+ Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ ống giảm thanh (Pô xe) có vết chà mòn nhựa kích thước (17x7) cm, theo hướng từ trước ra sau.
* Kết quả khám phương tiện xe mô tô biển số 86C1-863.90 (do Phạm Tấn D điều khiển) sau tai nạn ghi nhận các dấu vết, đặc điểm sau:
+ Gọng kim loại kính chiếu hậu bên trái xe bị gãy bung rời khỏi xe;
+ Đầu núm nhựa bên phải tay lái có vết chà mòn nhựa nham nhở, kích thước (2,5 x 0,5) cm;
+ Tay lái bên trái bị đẩy lệch theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới;
+ Mặt nạ phía trước bên trái có vết nứt vỡ nhựa kích thước (13x20) cm;
+ Đèn chuyển hướng trước bên trái bị nứt vỡ nhựa, kích thước (14x10) cm;
+ Dè trước bánh trước có vết nứt vỡ nhựa kích thước (34x11) cm;
+ Hai phuộc trước bị đẩy lệch từ trước ra sau, từ trái sang phải;
+ Cụm khóa bên trái phuộc trước bị đẩy lệch theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải và ổ khỏa bị gãy rời bung mất khỏi xe;
+ Trục trước bánh xe bên trái bị đẩy lệch theo hướng từ trước ra sau, phần đầu xe có vết chà mòn kim loại theo hướng từ trước ra sau có kích thước (1x1) cm;
+ Mâm trước bên trái có vết nứt vỡ kim loại kích thước (25x3,5) cm. Tâm vết cách chân van theo hướng ngược chiều quay bánh xe là 37 cm;
+ Bửng chắn gió trước bên phải bị gãy rời bung khỏi vị trí ban đầu;
+ Bửng chắn gió bên trái bị bể vỡ bung rời khỏi xe;
+ Mặt dưới gác chân trước bên phải có vết chà mòn kim loại theo hướng từ trước ra sau, kích thước (2,5x1,5) cm;
+ Mặt ngoài bên phải ống giảm thanh (Pô xe) có vết chà mòn nhựa theo hướng từ trước ra sau, kích thước (27x3) cm;
+ Dè chắn bùn sau của bánh xe sau bị đẩy lệch từ trái qua phải.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1284/PY-PC09 ngày 07/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận về nguyên nhân chết của Phạm Tấn D như sau:
- Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương không phục hồi do chấn thương sọ não.
- Kết luận khác: Nồng độ cồn ( Ethanol) trong máu của Phạm Tấn D tại thời điểm khám nghiệm tử thi là: 117,41mg/100ml.
* Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 16/2021/GĐHS ngày 21/5/2021 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Bình Thuận kết luận nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Tấn Công như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Xét nghiệm ethanol (cồn): 176 mg/dL.
2. Kết luận theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định: Nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Tấn C thể hiện trên hồ sơ bệnh án là 176mg/100ml.
* Tại bản kết luận giám định cơ học trên hồ sơ số 409/KLGĐ-PC09 ngày 12/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông trên đường Nguyễn Đình Chiểu:
- Xe mô tô biển số 86B3-746.11 có các dấu vết va chạm: Cong, vỡ kim loại vành bánh xe trước bên trái, chiều hướng từ trước ra sau từ ngoài vào tâm trục bánh xe, cong kim loại giảm xóc trước bên trái, vỡ kim loại hộp bảo vệ ống giảm xóc trước bên trái, chiều hướng từ trước ra sau; gãy, vỡ chắn bùn trước, yếm chắn gió trước bên trái, chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 86C1-863.90: gãy kim loại vành bánh xe trước bên trái chiều hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào tâm trục bánh xe; cong kim loại giảm xóc trước bên trái, cong, trượt xước kim loại đầu ốc cố định và trục bánh xe trước bên trái, chiều hướng từ trước ra sau; gãy, vỡ nhựa chắn bùn trước, yếm chắn gió trước bên trái, yếm chắn gió trước bên trái, chiều hướng từ trước ra sau;
- Xe mô tô biển số 86C1-863.90 di chuyển trên đường theo hướng từ trung tâm thành phố Phan Thiết đi Mũi Né; xe mô tô biển số 86B3-746.11 di chuyển theo hướng ngược lại.
- Xe mô tô biển số 86B3- 746.11 va chạm với xe mô tô biển số số 86C1-863.90 tại phần đường bên phải theo hướng từ trung tâm thành phố Phan Thiết đi Mũi Né.
* Vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô biển số 86B3 – 746.11, số máy: JF63F2586489, số khung: 6327KZ156408 (đây là chiếc xe mô tô do Nguyễn Tấn C điều khiển);
- 01 xe mô tô biển số 86C1 – 863.90, số máy: G3D4E875433, số khung: 1010KY108997 (đây là chiếc xe mô tô do Phạm Tấn D điều khiển);
- 01 USB lưu trữ đoạn video thời lượng 35 giây ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông tại trước số nhà 135 đường Nguyễn Đình Chiểu thuộc khu phố 1, phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết thu giữ từ ông Lê Đình Cường, sinh năm 1994, trú tại khu phố 1, phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết.
* Xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô biển số 86B3 – 746.11 : chủ sở hữu là bà Bùi Thị P. Bà P không biết việc C tự ý lấy xe của bà P đi vào ngày 21/11/2020 và gây tai nạn giao thông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho bà P. Sau khi nhận lại tài sản, bà P không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Đối với chiếc xe mô tô biển số 86C1-863.90 do Phạm Tấn D đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho gia đình Phạm Tấn D. Sau khi nhận lại tài sản, gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự .
Đối với 01 USB lưu trữ đoạn video thời lượng 35 giây ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông do ông Cường giao nộp được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án để phục vụ cho việc xét xử.
Về vấn đề bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, C cùng gia đình đã đến thăm hỏi, hỗ trợ và bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Tấn D số tiền 90.000.000 đồng và 9.000.000 đồng tiền sửa chữa chiếc xe mô tô biển số 86C1 – 863.90. Bà Huỳnh Thị Kim A là mẹ ruột của D đã nhận đủ số tiền nêu trên. Bà A đã có đơn bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Đối với ông Huỳnh Ngọc P1 chỉ bị thương tích nhẹ nên không có yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSPT ngày 31/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Tấn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: bị cáo từ 03 năm tù đến 3 năm 6 tháng tù, theo điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố là đúng, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện hợp pháp cho bị hại bà Huỳnh Thị Kim A xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được ở ngoài. Về trách nhiệm dân sự: bà A xác định đã nhận 99.000.000 đồng từ bị cáo đã bao gồm tiền bồi thường tổn thất vật chất và tinh thần. Bà A không có ý kiến hay yêu cầu gì về bồi thường trách nhiệm dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Bùi Thị P, ông Huỳnh Ngọc P1 không có ý kiến, yêu cầu gì về phần dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thể hiện tại hồ sơ đều hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/11/2020, Nguyễn Tấn C điều khiển xe mô tô biển số 86B3-746.11 không có giấy phép lái xe hạng A1 và sử dụng rượu, bia (trong máu có nồng độ cồn 176mg/100ml) lưu thông trên đường Nguyễn Đình Chiểu theo hướng từ Mũi Né đi thành phố Phan Thiết. Khi đi đến gần trước số nhà 135 đường Nguyễn Đình Chiểu, khu phố 1, phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết, C phát hiện phía trước xe của C có một xe ô tô đang lưu thông chạy cùng chiều, C điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển để vượt lên phía bên trái của xe ô tô thì bất ngờ đâm trực diện vào xe mô tô biển số 86C1 – 863.90 do anh Phạm Tấn D điều khiển chở theo sau là Huỳnh Ngọc P1 đang di chuyển theo hướng ngược lại, gây tai nạn giao thông, làm anh D tử vong tại hiện trường.
Tại khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 qui định về các hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia giao thông: “Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”
Tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ về quy tắc chung: “ Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”;
Tại khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định về vượt xe:“Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”. điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy đinh“ Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây: Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này” .
Tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia (Sửa đổi; bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008) quy định: “1. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau:
“8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.
Đối chiếu biên bản ghi nhận hiện trường, biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường , các bản kết luận giám định và cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa, người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra cho thấy: Hành vi của Nguyễn Tấn C điều khiển xe mô tô biển số 86B3-746.11 khi không có giấy phép lái xe, trong máu có nồng độ cồn, vượt xe ô tô không đảm bảo an toàn khi có xe ngược chiều dẫn đến xe mô tô do C điều khiển va chạm với xe mô tô do bị hại điều khiển làm bị hại té ngã và sốc chấn thương không phục hồi do chấn thương sọ não. Như vậy lỗi gây ra tai nạn thuộc về bị cáo, là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn dẫn đến việc ông Phạm Tấn D tử vong. Bị cáo đã vi phạm vào khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 2 , điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia (Sửa đổi; bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008). Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng: không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi của bị cáo khi điều khiển phương tiện giao thông gây thiệt hại đến tính mạng của người khác là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an toàn, trật tự giao thông trong xã hội. Do đó HĐXX cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và nhằm răn đe, góp phần phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, HĐXX xem xét hành vi của bị cáo tại phiên tòa đã thể hiện sự ăn năn, hối cải. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy HĐXX cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Tấn C và chủ sở hữu xe là bà Bùi Thị P đã bồi thường cho gia đình người bị hại với tổng số tiền là 99.000.000 đồng (chín mươi chín triệu đồng). Tại phiên tòa, gia đình bị hại xác định số tiền này đã bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần. Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì kể cả tiền tổn thất về tinh thẩn nên HĐXX không xem xét. Đối với ông Huỳnh Ngọc P1 chỉ bị thương tích nhẹ nên không có yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và tại phiên tòa ông P1 không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xét.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết đã xử lý vật chứng trả lại 2 chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu và các đương sự không có yêu cầu và ý kiến gì. Việc xử lý như trên là có căn cứ nên HĐXX không xử lý nữa.
Về việc bị cáo C tự ý lấy xe của bà Bùi Thị P đi vào ngày 21/11/2020 và gây tai nạn giao thông thì bà P không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết không xử lý bà P là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 260, Điều 38 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia (sửa đổi; bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008)
* Xử phạt: Nguyễn Tấn C 30 tháng tù thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyễn Tấn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về phần bản án liên quan đến mình là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2021).
| Nơi nhận: - VKSND tp Phan Thiết; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an tp Phan Thiết; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú ; - THADS Tp.Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Lê Phương |