vanban.org

Bản án 99/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Hà Văn Đ 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh giấy bạc; Mẫu lưu có hối l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2020/HS-ST
Ngày: 27/7/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bạn.

2. Bà Bùi Thị Bưởi.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Thư T a án nh n d n thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Ngần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nh n d n thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ l số 105/2020/TLST-HS ngày 16/7/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2020/QĐXXST-HS ngày 16/7/2020 đối với bị cáo:

Hà Văn Đ (Tên gọi hác: Không), sinh ngày 09 tháng 7 năm 1997 tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Tổ 14, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn Toản, sinh năm 1969 và bà L Thị Thượng, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Điêu Thị Duyên, sinh năm 1997, có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 5 năm 2020 đến nay. Có mặt tại phiên t a.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 20 phút ngày 22/5/2020, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về inh tế, ma túy - Công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại hu vực tổ 01, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La thì phát hiện và bắt quả tang Hà Văn Đ đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) gói giấy bạc, mở ra bên trong chứa 03 (Ba) viên nén màu hồng đồng dạng, hình tròn (Hà Văn Đ khai nhận đó là 03 (Ba) viên ma túy hồng phiến). Hà Văn Đ tự giác lấy từ trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác.

Ngày 23 tháng 5 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, c n tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định vật chứng, ết quả c n tịnh: 03 (Ba) viên nén màu hồng hình tr n đồng dạng có tổng hối lượng 0,28 gam; lấy 01 (Một) viên nén màu hồng hình tròn đồng dạng có hối lượng 0,1 gam hiệu Đ1 cho vào túi nilon màu trắng hàn ín lại làm mẫu giám định. C n lại 02 (Hai) viên nén màu hồng hình tr n đồng dạng có hối lượng 0,18 gam hiệu Đ2 cho vào túi nilon màu trắng hàn ín lại làm mẫu lưu ho.

Kết luận giám định số 806 ngày 26/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,28 gam; loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo Hà Văn Đ khai nhận như sau: Do bản thân nghiện ma túy, vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/5/2020, Hà Văn Đ đi bộ từ nhà ở Tổ 14, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đến khu vực tổ 01, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy sử dụng. Tại đ y Đ gặp và mua của một người nam giới không quen biết 01 (Một) gói giấy bạc bên trong chứa 03 (Ba) viên Hồng phiến với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Đ cất giấy gói ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 150/CT- VKSTP ngày 16 tháng 7 năm 2020 của Viện iểm sát nh n d n thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên t a, đại diện Viện iểm sát nh n d n thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử l đối với bị cáo như sau:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh giấy bạc; Mẫu lưu có hối lượng 0,18 gam hiệu Đ2.

Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí của T a án: Buộc bị cáo Hà Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên t a, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý iến tranh luận gì với vị đại diện Viện iểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo hông có iến hiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên t a, bị cáo vẫn giữ nguyên lời hai tại Cơ quan điều tra, bị cáo hông thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện iểm sát nh n d n thành phố Sơn La. Bị cáo hẳng định việc hai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên t a ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện.

Xét lời hai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 22/5/2020; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định hối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; ết luận giám định, lời hai của người làm chứng; chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ ết luận:

Ngày 22/5/2020 bị cáo Hà Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,28 gam Methamphetamine. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tu thuộc trường hợp quy định tại điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp x m phạm tới chế độ quản l độc quyền chất ma tu của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nh n th n của bị cáo thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma tu , là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tu đối với bản th n, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử l nghiêm hắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã g y ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và ph ng ngừa chung.

Tuy nhiên, hi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau hi phạm tội bị cáo đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải. Đ y là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nh một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công hai tại phiên t a hôm nay thấy rằng: Bị cáo Hà Văn Đ là người nghiện ma túy, bản th n hông có công việc, thu nhập ổn định và hông có tài sản gì có giá trí, do đó hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh giấy bạc; Mẫu lưu có hối lượng 0,18 gam hiệu Đ2. Xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và hông có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Hà Văn Đ (như bị cáo đã hai), nhưng bị cáo hông biết họ, tên và địa chỉ của người này. Do đó hông có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Hà Văn Đ 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh giấy bạc; Mẫu lưu có hối lượng 0,18 gam hiệu Đ2.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/7/2020 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; hoản 1 Điều 21, điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ