vanban.org

Bản án 99/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Trần Văn H: 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2020). Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2020/HS-ST
Ngày 24 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuần

Ông Phạm Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang -Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H - sinh năm 1963 tại Nam Định; Nơi cư trú: Tổ 4, ấp 4, xã G, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình K (đã chết); Con bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị M (đã chết); Con: 02 người, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 13/01/2020, đến ngày 16/01/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 13/01/2020, Công an huyện Định Quán phối hợp với Công an xã G bắt quả tang Trần Văn H đang tổng hợp phơi đề tại nhà riêng ở tổ 4, ấp 4, xã G, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Quá trình điều tra đã xác định như sau: Từ tháng 6/2019 đến ngày 13/01/2020, Trần Văn H tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức “ghi số đề” cho những người có nhu cầu tại địa phương (khu vực xã Phú Lợi, xã G) để kiếm thêm thu nhập. Để khuyến khích những người chơi đến ghi số, H cho những người tham gia ghi số được hưởng từ 10% đến 20% số tiền mà họ ghi và cho các con bạc nợ tiền ghi số nếu chưa có tiền để trả. Mỗi ngày, H ghi đề cho khoảng từ 10 đến 15 người, với số tiền đánh bạc khoảng từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ, tính từ tháng 6/2019 đến nay, H thu lợi bất chính từ đánh bạc khoảng 3.000.000 đồng. Hiện bị cáo H đã nộp lại số tiền trên.

Cách thức đánh bạc như sau: Khi những người chơi có nhu cầu mua số đề thì tự chọn số để mua, nhắn tin, gọi điện thoại vào các số thuê bao 0369.558.352 và số 0382.537.229 hoặc đến nhà H để mua số. Sau đó, H sẽ tổng hợp số đề đã bán cho những người chơi vào trang giữa của cuốn tập có kích thước 35x20cm và xoá đi dữ liệu các tin nhắn trong 02 điện thoại. Cách giờ mở thưởng của các đài xổ số khoảng 20 phút, H sẽ gọi điện thoại vào số 0866.635.819 của một người phụ nữ tên M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để “bán lại” những số có giá trị lớn để hưởng 20% chênh lệch, H giữ lại những số có giá trị nhỏ để trực tiếp thắng thua với người chơi. Cuối ngày, căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng của các đài từng địa phương để tính thắng thua (người chơi ghi số trùng với kết quả xổ số thì người chơi trúng đề tương ứng với số tiền ghi đề). Khi trúng đề, người chơi đến gặp H để nhận tiền trúng đề, tỷ lệ thắng thua như sau: đánh đầu đuôi hai số tỷ lệ 01 ăn 70, bao lô hai số tỷ lệ 01 ăn 70, đầu đuôi 03 số gọi là xỉu chủ tỷ lệ 01 ăn 600, đánh số đá tỷ lệ 01 ăn 600. Sau khi thanh toán tiền thắng thua với người chơi xong, H sẽ xé bỏ trang phơi đề đã ghi của ngày hôm trước. Vào khoảng 18 giờ 05 phút ngày 13/01/2020, trong lúc H đang tổng hợp phơi đề thì bị Công an đến kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật.

Căn cứ bản chiết tính phơi đề ngày 13/01/2020 của Đài thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/01/2020 xác định số tiền H ghi đề vào ngày 13/01/2020 là 16.356.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số ngày 13/01/2020 và biên bản đối chiếu kết quả xổ số theo kết quả xổ số kiến thiết của Đài Thành phố Hồ Chí Minh, xác định số tiền những người ghi đề đã trúng thưởng vào ngày 13/01/2020 là 4.050.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H sử dụng vào việc đánh bạc theo kết quả xổ số Đài thành phố Hồ Chí Minh là 20.406.000 đồng

Căn cứ bản chiết tính phơi đề ngày 13/01/2020 của Đài Miền Bắc (Hà Nội) xác định số tiền H dùng để đánh bạc vào ngày 13/01/2020 là 6.694.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà Trần Văn H dùng để đánh bạc vào ngày 13/01/2020 là 27.100.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 02 điện thoại di động các loại.

- 01 quyển tập kích thước 35x20cm (trang giữa tổng hợp số đề và số tiền ghi ngày 13/01/2020).

- 01 cây viết bi mực xanh.

- Tiền mặt: 10.600.000 đồng.

- 01 máy tính Casio.

Tại cáo trạng số 103/CT-VKSĐQ ngày 07 tháng 9 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố Trần Văn H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo H: từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Xử phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 13.600.000 đồng (trong đó 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính và 10.600.000 đồng là tiền sử dụng vào việc phạm tội); 01 máy tính Casio, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, model TA-1010 cùng 01 sim số 0369.558.352, 01 điện thoại di động Nokia màu vàng, model 6300 cùng 01 sim số 0382.537.229;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 cây bút bi màu xanh.

- Tịch thu lưu giữ cùng hồ sơ 01 cuốn tập học sinh, có trang giữa là trang tổng hợp phơi đề.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu, nhận thức được hành vi của mình là sai, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 13/01/2020, tại nhà của H ở tổ 4, ấp 4, xã G, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, Trần Văn H đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề” với tổng số tiền đánh bạc là 27.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi ghi số đề để nhằm mục đích được thua bằng tiền của bị cáo H là thuộc trường hợp đánh bạc trái phép, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích kiếm lời nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn H trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo H đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xét tính chất hành vi phạm tội thì cần xử phạt hình phạt tù mới phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, cũng như việc bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng; xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo dưới sự quản lý của chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sau này.

Ngoài ra các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen, model TA-1010 cùng 01 sim số 0369.558.352, 01 điện thoại di động Nokia màu vàng, model 6300 cùng 01 sim số 0382.537.229; 01 máy tính Casio là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với tiền mặt 3.000.000 đồng thu lợi bất chính và số tiền 10.600.000 đồng là tiền sử dụng vào việc phạm nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 quyển tập kích thước 35x20cm (trang giữa tổng hợp số đề và số tiền ghi ngày 13/01/2020). Tịch thu lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.

- 01 cây viết bi mực xanh là công cụ phương tiện phạm tội, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.

- Đối với số tiền bị cáo nhận ghi số đề theo các phơi đề ngày 13/01/2020 là 23.050.000đ đồng, bị cáo khấu trừ cho người chơi là 20%, số tiền chơi đề thực tế người chơi phải giao cho bị cáo là 18.440.000 đồng. Bị cáo đã bị thu giữ 10.600.000 đồng, còn lại số tiền 7.840.000 đồng tại phiên tòa bị cáo khai nhận số tiền này những người chơi đề đã giao cho bị cáo; nên buộc bị cáo nộp lại số tiền 7.840.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về vấn đề khác:

Đối với đối tượng M1, H khai nhận bản thân H không biết rõ về đối tượng M1, chỉ liên lạc qua số điện thoại 0866.638.819, khi thu tiền đề và chung tiền thắng thua thì đối tượng M1 đều thực hiện tại nhà H, qua kết quả xác minh, tại địa bàn xã Phú Lợi, nơi có nhiều người dân tộc Hoa sinh sống, phụ nữ thường được gọi tên ở nhà là M1 nên Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng M1. Nên tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với các đối tượng tham gia ghi số đề tại nhà H, sau khi tổng hợp xong phơi đề từ điện thoại sang giấy, H đã xoá hết số điện thoại, bản thân H cũng khai nhận không biết rõ nhân thân, lai lịch những người chơi đề.

Đối với các số điện thoại đã liên lạc với H để ghi số đề và giao, nhận số đề, qua xác minh xác định Chi nhánh tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông quân đội Viettel Đồng Nai không có thẩm quyền cung cấp thông tin cho Cơ quan Điều tra nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Trần Văn H: 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2020).

Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bổ sung Trần Văn H: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

2. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 13.600.000 đồng; 01 máy tính Casio; 01 điện thoại di động Nokia màu đen, model TA-1010 cùng 01 sim số 0369.558.352; 01 điện thoại di động Nokia màu vàng, model 6300 cùng 01 sim số 0382.537.229.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 cây bút bi mực xanh.

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Quyết định chuyển vật chứng số 103/QĐ-VKS-HS ngày 09/9/2020; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/9/2020 và Biên lai thu tiền số 0002908 ngày 10/9/2020).

- Tịch thu lưu giữ cùng hồ sơ 01 cuốn tập học sinh, có trang giữa là trang tổng hợp phơi đề.

- Buộc bị cáo Trần Văn H nộp số tiền 7.840.000đ (Bảy triệu tám trăm bốn mươi ngàn đồng) để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ