vanban.org

Bản án 99/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh P H Ứ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh Ứ theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị N T K L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004509 ngày 01-10-2019 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện C T, tỉnh An Giang. [4] Về quyền kháng cáo:…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Loan với anh Phạm Hồng Ức"
  • Tòa quyết gì? Anh P H Ứ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh Ứ theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2020
V/v Ly hôn giữa chị L và anh Ứ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Quế Minh

Ông Mai Hòa Phúc

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 370/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 25/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị N T K L, sinh năm 1982 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 14, ấp P A 1, xã B H, huyện C T, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Anh P H Ứ, sinh năm 1980 (vắng mặt)

ĐKHKTT: Tổ 7, ấp V T, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai ngày 19-8-2019 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị N T K L trình bày:

+Về hôn nhân: Chị và anh P H Ứ kết hôn năm 2001, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang số 96/KH ngày 18-12-2001. Trong thời gian chung sống gia đình xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh Ứ có quan hệ với người phụ nữ khác. Năm 2015, chị và anh Ứ sống ly thân cho đến nay. Nay chị xin ly hôn với anh P H Ứ. +Về con chung: Có 02 con chung tên P T K P, sinh ngày 05-3-2001 và P M T, sinh ngày 02-6-2005. Hiện chị đang nuôi con. Nếu ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. +Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Ứ cấp dưỡng nuôi con. +Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. +Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2 lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh P H Ứ, nhưng anh Ứ vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01-11-2019, chị N T K H trình bày: Chị là em ruột của chị L, anh Ứ là anh rễ của chị. Theo chị biết là do anh Ứ có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác, bỏ chị L đi đã 3 năm nay. Chị L bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2015 cho đến nay. Chị L gọi điện thoại cho anh Ứ được nhưng không nghe máy, chỉ có con mới gọi điện thoại được cho anh Ứ. Theo chị giữa chị L và anh Ứ không có khả năng đoàn tụ. Vì chị L đã nhiều năm chờ đợi anh Ứ thay đổi tính tình nhưng anh Ứ không thay đổi mặc dù gia đình 2 bên đều tác động hàn gắn nhưng không thành. Tại biên bản lấy lời khai ngày 04-11-2019, cháu P M T trình bày: Cháu tên P M T, cháu sinh ngày 02-6-2005. Cháu có đi học, cháu học lớp 9 trường Trung học cơ sở C Đ, xã C Đ, huyện C T, tỉnh An Giang. Cháu đang sống với mẹ. Cha mẹ cháu không sống chung khoảng 4 năm nay rồi; cha cháu có vợ bé bỏ mẹ con cháu; ông bà nội có la rầy cha cháu nhưng cha cháu không nghe. Cháu không biết hiện nay cha cháu đang sống tại đâu, cháu chỉ gọi điện thoại được cho cháu mà thôi. Cha cháu có biết việc mẹ cháu nộp đơn xin ly hôn vì cha cháu đã nhận được đơn xin ly hôn của mẹ cháu. Cha mẹ ly hôn cháu muốn sống với mẹ. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm như sau: 1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự. 2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho chị L nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị N T K L, bị đơn anh P H Ứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nguyên đơn chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ứ vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn chị L và bị đơn anh Ứ.

[2] Về hôn nhân: Chị N T K L và anh P H Ứ kết hôn năm 2001. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang số 96/KH ngày 18-12-2001 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị L có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa chị L và anh Ứ nhưng anh Ứ không tham gia hòa giải. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01-11-2019, chị N T K H là em ruột của chị L trình bày anh Ứ có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác, bỏ chị L đi đã 3 năm nay. Theo chị giữa chị L và anh Ứ không có khả năng đoàn tụ. Từ khi sống ly thân đến nay anh Ứ không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh Ứ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chị L được ly hôn với Ứ là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị N T K L và anh P H Ứ có 02 con chung. Chị L đang nuôi con, anh Ứ không có ý kiến gì về việc nuôi con. Cháu P T K P, sinh ngày 05-3-2001 đã trưởng thành.

Xét thấy: Cháu T hiện đang sống chị L, chị L nuôi cháu chu đáo, cháu được đi học, cháu đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng sống với chị L. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp.

Chị N T K L và các thành viên trong gia đình chị L không được cản trở anh P H Ứ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh P H Ứ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh Ứ theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N T K L không yêu cầu anh P H Ứ cấp dưỡng nuôi con. Anh P H Ứ không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về tài sản chung: Chị N T K L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh P H Ứ không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N T K L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh P H Ứ không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn chị N T K L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004509 ngày 01-10-2019 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện C T, tỉnh An Giang. [8] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn chị N T K L, bị đơn anh P H Ứ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Xử: [1] Về hôn nhân: Chị N T K L được ly hôn với anh P H Ứ. Giấy chứng nhận kết hôn số 96/KH ngày 18-12-2001 của Ủy ban nhân dân xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. [2] Về con chung: Chị N T K L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên P T K P, sinh ngày 05-3-2001 và P M T, sinh ngày 02-6-2005. Chị N T K L và các thành viên trong gia đình chị L không được cản trở anh P H Ứ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh P H Ứ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh Ứ theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị N T K L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004509 ngày 01-10-2019 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện C T, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị N T K L, bị đơn anh P H Ứ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ