vanban.org

Bản án 99/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hữu N;

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Quốc T; Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu N cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hữu N;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 99/2019/HS-ST
Ngày: 24 - 4 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Nhuận;

2. Ông Nguyễn Thanh Luật.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, là Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 90/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu N, sinh năm 1985 tại tỉnh Đ; nơi cƣ trú: Khóm 4, phƣờng 1, thành phố S, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; bị cáo chƣa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 28/10/2002 bị Ủy ban nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng, thời gian 18 tháng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 341/QĐ-UB-HC; chấp hành xong ngày 28/5/2004;

- Ngày 12/01/2005 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đƣa vào cơ sở giáo dục, thời gian 18 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 86/QĐ.UB-HC; chấp hành xong ngày 19/7/2006;

- Ngày 21/11/2006 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đƣa vào cơ sở giáo dục, thời gian 24 tháng về hành vi cố ý gây thƣơng tích theo Quyết định số 1751/QĐ.UBND-HC; chấp hành xong ngày 27/12/2008;

- Ngày 04/02/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 22/2010/HSST; chấp hành hình phạt xong ngày 03/8/2010;

- Ngày 20/6/2011 bị Ủy ban nhân dân thị xã S, tỉnh Đ đƣa vào cơ sở chữa bệnh, thời gian 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 156/QĐ –UBND.HC;

- Ngày 07/9/2012 bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh A xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 38/2012/HSST; chấp hành hình phạt xong ngày 09/02/2015;

Bị bắt, tạm giam ngày 08/10/2018 cho đến nay.

2. Nguyễn Quốc T, sinh năm 1991 tại Thành phố H; nơi cƣ trú: 1023B tổ 11, khu phố 2, phƣờng B, quận Đ, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Trần Lâm P, sinh năm 1968; bị cáo chƣa có vợ con;

Tiền sự: Ngày 16/8/2018 bị Công an phƣờng V, thị xã A, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 77/QĐ –XPVPHC;

Tiền án: Ngày 25/4/2017 bị Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố H xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 137/2017/HSST; chấp hành hình phạt xong ngày 07/6/2017;

Nhân thân: Ngày 19/4/2011 bị Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố H xử phạt 03 năm tù về tội cƣớp tài sản theo bản án số 90/2011/HSST; chấp hành hình phạt xong ngày 03/02/2013;

Bị bắt, tạm giam ngày 08/10/2018 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979; nơi ĐKHKTT: 134/10 Bùi Thị Xuân, phƣờng P, Quận 1, Thành phố H; chỗ ở: 16/1 Nguyễn Cảnh Châu, phƣờng C, Quận 1, Thành phố H. Vắng mặt.

Ngƣời làm chứng: Ông Cao Thanh D, sinh năm 1997. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08/10/2018, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An phối hợp với Công an phƣờng B, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành tuần tra theo quy định. Khi tuần tra đến tuyến đƣờng ĐT743C thuộc khu phố Đ, phƣờng B, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Nguyễn Quốc T đang điều khiển xe môtô biển số 66S1-xxxx chở Nguyễn Hữu N có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) cất giấu trong gói thuốc lá hiệu Jet để trong túi xách N đang đeo. Lực lƣợng công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quốc T và Nguyễn Hữu N, cùng tang vật đƣa về trụ sở công an làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp), 01 (một) chiếc xe môtô biển số 66S1-xxxx.

Theo kết luận giám định số: 609/MT-PC09 ngày 10/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định (gồm tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon miệng kéo dính), có khối lƣợng 0,3287gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 98/CT-VKS-TA ngày 25/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu N và Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Hữu N và Nguyễn Quốc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Và đề nghị Hội đồng xét xử giao chiếc xe môtô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter-2ND1, dung tích xylanh 149,8cm3, có số khung RLCUG0610FY042476, số máy G3D4E-045080 cho cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh, xử lý sau. Đối với biển số xe 66S1-xxxx đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu N và bị cáo Nguyễn Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08/10/2018, tại tuyến đƣờng ĐT743C thuộc khu phố Đ, phƣờng B, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Hữu N và Nguyễn Quốc T có hành vi cất giấu 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) trong gói thuốc lá hiệu Jet để trong túi xách N đang đeo thì bị phát hiện và bắt giữ. Hành vi của các bị cáo tàng trữ trái phép 0,3287 gam chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma tuý; gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo là đối tƣợng nghiện, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo mua chất ma túy để sử dụng. Việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Loại ma túy mà các bị cáo sử dụng là Methaphetamin, là một loại chất gây nghiện tổng hợp có nhiều tác hại cho sức khỏe con ngƣời. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng vì nghiện chất ma túy, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu N không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên bị cáo Nghĩa có nhân thân xấu từng bị đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng ngày 28/10/2002, cơ sở giáo dục ngày 12/01/2005 và ngày 21/11/2006, cơ sở chữa bệnh do sử dụng trái phép chất ma túy ngày 20/6/2011; bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh B và Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh A xử phạt về tội vi trộm cắp tài sản ngày 04/02/2010 và ngày 07/9/2012, bị cáo đã đƣợc xóa án tích nhƣng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Quốc T có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 16/8/2018 và 01 tiền án do Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố H xử phạt về tội trộm cắp tài sản ngày 25/4/2017. Bị cáo T chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trƣờng hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có phần nghiêm khắc so với hành vi các bị cáo thực hiện nên cần xem xét cho phù hợp khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) bì thƣ niêm phong, bên ngoài ghi số vụ 609/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc xe môtô biển số 66S1-xxxx thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu N, quá trình điều tra bị cáo Nghĩa khai chiếc xe môtô này là do bị cáo mua nhƣng không biết tên, địa chỉ ngƣời bán, không có giấy tờ. Qua tra cứu tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định chiếc xe môtô này có biển số là 59T1-xxxx, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter-2ND1, dung tích xylanh 149,8cm3, có số khung RLCUG0610FY042476, số máy G3D4E-045080 do ông Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: 134/10 Bùi Thị Xuân, phƣờng P, Quận 1, Thành phố H, đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tuy nhiên tại địa chỉ này, ông Đ đã bán nhà từ năm 2009, chuyển sang sinh sống tại địa chỉ 16/1 Nguyễn Cảnh Chân, phƣờng C, Quận 1, Thành phố H, nhƣng qua xác minh thể hiện không có ai tên Nguyễn Văn Đ tạm trú tại địa chỉ này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã thông báo truy tìm chủ sở nhƣng đến nay đã hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra thông báo vẫn chƣa có ai đến liên hệ nên cần giao cho Công an thị xã Thuận An để xử lý theo thẩm quyền. Đối với biển số xe 66S1-xxxx thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu N cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tƣợng bán ma túy cho các bị cáo Nguyễn Hữu N và Nguyễn Quốc T, quá trình điều tra chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên khi nào xác định sẽ xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hữu N;

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Quốc T;

- Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N và Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Hữu N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2018.

Xử phạt: Nguyễn Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thƣ niêm phong, bên ngoài ghi số vụ 606/PC05 là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) biển số xe số 66S1-xxxx

- Giao cho Công an thị xã Thuận An 01 (một) chiếc xe môtô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter-2ND1, dung tích xylanh 149,8cm3, có số khung RLCUG0610FY042476, số máy G3D4E-045080 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy xe, yên xe bị rách) để xử lý theo thẩm quyền.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/3/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận An).

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Hữu N và bị cáo Nguyễn Quốc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ