vanban.org

Bản án 06/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 17/01/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Nguyễn Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Nguyễn Văn P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2017/HSPT
Ngày 17/01/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Ngọc Bình

Ông Đinh Quang Nghĩa

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Tưởng, Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Minh Hòa, Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 149/2016/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2016 đối với bị cáo Nguyễn Văn P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 212/2016/HSST ngày 22/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

*Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn P; sinh năm 1989, nơi ĐKNKTT: Tổ A, khu B, phường K, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 29/7/2016, hiện tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 29/7/2016 tại khu B, phường K, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn P bán trái phép 02 túi ma túy cho Nông Thị V, giá 1.000.000 đ bị Công an thành phố H bắt quả tang.

Ngày 29/7/2016 Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn P tại tổ Tổ A, khu B, phường K, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thu giữ 03 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, một cân điện tử mini và một trăm nghìn đồng.

Vật chứng sau khi niêm phong, gửi giám định và kết luận giám định: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nông Thị V gửi giám định có thành phần Methamphetamine, cân nặng 0,24 gam và chất tinh thể màu trắng thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của P có thành phần Methamphetamine, cân nặng 1,45 gam

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2016/HSST ngày 22/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố H đã tuyên xử Nguyễn Văn P, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt từ ngày 29/7/2016. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30/11/2016, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, lý do bản án tuyên như vậy là quá nghiêm khắc, nhận thức pháp luật còn hạn chế, khi phạm tội đã thành khẩn, bản thân chưa tiền án tiền sự, gia đình nội ngoại đều là Đảng viên. Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 30 tháng tù.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,

XÉT THẤY:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P, xét thấy: Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ. Trong đơn kháng cáo, bị cáo xin giảm hình phạt. Như vậy có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ, ngày 29/7/2016 tại khu B, phường K, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phúc có bán trái phép 0,24 gam Methamphetamine cho Nông Thị V và tàng trữ trái phép 1,45 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán.

Với hành vi trên, bị cáo Nguyễn Văn P bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự xã hội, tiếp tay cho những người mua bán trái phép chất ma túy, làm cho tệ nạn này có chiều hướng gia tăng, ma túy còn là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song vì mục đích kiếm lời bất chính bị cáo mua đi bán lại chất ma túy. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục và phòng ngừa. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 30 tháng tù là phù hợp, mức hình phạt không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để giảm hình phạt đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Nguyễn Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2016.

Áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự, pháp lệnh số 10/UBTVQH12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, qui định về án phí, bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ