vanban.org

Bản án 99/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1996 (đã trưởng thành). Về tài sản chung và nợ chung: Không có, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 99/2019/HNGĐ-ST
Ngày 21-3-2019
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Lan

2. Ông Phạm Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm Sát viên

Ngày 21 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 432/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: Tổ 23, ấp Tân Phú A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân châu, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1974. Nơi cư trú: Tổ 8, ấp Phú An A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 tự tìm hiểu yêu thương và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1995, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng kể từ khi chung sống nhau đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, sống không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn sống chung với nhau được và chị H xin ly hôn với anh H1.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh H1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành).

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Thanh H1 trình bày:

- Về hôn nhân: Thống nhất về thời gian và điều kiện đi đến chung sống như chị H trình bày. Sau khi tổ chức lễ cưới, anh H1 và chị H sống hạnh phúc nhưng không đăng ký kết hôn. Đến đầu năm 2016 anh H1 và chị H phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, sống không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, anh H1 đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: Trong thời gian anh H1 sống chung với chị H có được 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành).

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải về con chung; tài sản chung; không hòa giải về tình cảm do chị H và anh H1 không đăng ký kết hôn.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H1. Về con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành). Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H1 đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành). Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Phát biểu của Kiểm sát viên: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 195, 196 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án

+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa, chị H và anh H1 sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1995, không đăng ký kết hôn. Năm 2016, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Quá trình chung sống chị H và anh H1 không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Về con chung, chị H và anh H1 có 01 con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh H1 đã khai không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 11, 92, 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội;

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H1, anh H1 có nơi cư trú tại tổ 8, ấp Phú An A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, chị H và anh H1 thống nhất chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1995 và không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Ngoài ra, chị H và anh H1 thống nhất về con chung và tài sản chung. Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử nhận định đây là những tình tiết không phải chứng minh.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị H và anh H1 chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1995 và không đăng ký kết hôn. Đến năm 2016, chị H và anh H1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng”.

Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhân quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”.

Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 có tổ chức lễ cưới và sống chung từ năm 1995, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Xét, không công nhận chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11/4/1996 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh H1 đồng thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H đã nộp. Anh H1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về căn cứ pháp luật:

Chị H và anh H1 chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1995, nhưng không đăng ký kết hôn. Ngày 05/12/2018, chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn. Xác định quan hệ vợ chồng có hợp pháp hay không hợp pháp là theo pháp luật tại thời điểm chung sống (Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000), nhưng xử lý quan hệ chung sống là tại thời điểm xét xử (Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1.

2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1996 (đã trưởng thành).

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009652 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tân Châu. Chị Trần Thị H đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Thanh H1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ