vanban.org

Bản án 99/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn D ph m tội Mua bán trái phép ch t ma tuý.

Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử ph t: Lò Văn D 07 (Bảy) năm tù. Thời gian ch p hành hình ph t tù t nh từ ngày t m gi , t m giam ngày (08/01/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van Dien - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn D ph m tội Mua bán trái phép ch t ma tuý.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 99/2018/HSST
Ngày: 29/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn, ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, t i Tr s Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 84/2018/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định xét xử số: 110/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Lò Văn Diên, sinh 1978; nơi ĐKHKTT: Bản N, x C, huyện S, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; con ông: Lò Văn H (đ chết); còn bà: Lò Thị A; Vợ: Lò Thị X; có 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị b t t m gi , t m giam từ ngày 08/01/2018 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vì Văn H, sinh năm 1993. Trú t i: Bản S, x M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án, thì nội dung v án được tóm t t như sau:

Hồi 15 giờ 45 ngày 08/01/2018, Tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm v t i bản N, x C phát hiện b t quả tang Lò Văn D có hành vi Bán trái phép ch t ma tuý cho Lò Văn Đ, SN 1996 và Vì Văn H, SN 1993 đều trú t i bản S, x M, huyện S. Thu gi được của D: 01 lọ nhựa màu tr ng đựng 06 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến, 01 điện tho i di động FPT và số tiền 400.000VNĐ; thu của H 1/2 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến, 01 Điện tho i di dộng Nokia; thu của Đ 1/2 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến. Ngoài ra thu t i bếp của D 01 tẩu tự chế sử d ng ma tuý, 01 bật lửa ga, 01 mảnh gi y b c. Tổ công tác đ lập biên bản b t gi người có hành vi ph m tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 09/01/2018, t i hòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đ tiến hành m niêm phong, cân tịnh, tr ch m u vật chứng thu gi trong v án giám định, kết quả: 06 viên nén màu hồng thu gi Lò Văn D có khối lượng 0,54 gam, tr ch 03 viên có khối lượng 0,27 gam ký hiệu D1 làm m u giám định, vật chứng còn l i 03 viên có khối lượng 0,27 gam ký hiệu D4; 1/2 viên nén màu hồng thu gi của Vì Văn H có khối lượng 0,03 gam đ dùng hết làm m u giám định, ký hiệu D2; 1/2 viên nén màu hồng thu gi của Lò Văn Đ có khối lượng 0,04 gam đ dùng hết làm m u giám định, ký hiệu D3.

T i kết luận giám định số 203 ngày 17/01/2018 của hòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

M u gửi giám định ký hiệu D1, D2, D3 là ch t ma tuý, lo i ch t Methamphetamine; khối lượng m u giám định là D1=0,27gam; D2=0,03gam; D3=0,04 gam.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 05/01/2018, Lò Văn D mang theo 500.000VNĐ đi bộ lên khu rừng thuộc x C để tìm cây thuốc ch a đau chân. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, D đi đến khu vực bản Huổi T, x C thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông đang ngồi ven đường sử d ng ma túy, th y vậy D hỏi và mua được của người đàn ông này 19 viên Hồng phiến với giá 500.000 VNĐ với m c đ ch mang về để sử d ng và bán lẻ kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, D c t gi u vào trong túi quần đang mặc rồi tiếp t c đi tìm cây thuốc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày D đi về, trên đường về D nhặt một lọ nhựa màu hồng rồi bỏ 19 viên Hồng phiến vào cho vào lọ nhựa. Trong các ngày mùng 05, 06, 07 và sáng ngày 08/01/2018, D đ l y ra 05 viên Hồng phiến sử d ng bằng hình thức đốt, h t, số còn l i D v n c t gi u trong lọ nhựa và để trong túi áo đang mặc. Đến khoảng 15 giờ ngày 08/01/2018, D đang nhà có Lò Văn Đ và Vì Văn H đều bản S, x M, huyện S đến hỏi mua Hồng phiến, D đồng ý bán với giá 50.000VNĐ/ 01 viên, Đ đưa 200.000VNĐ cho D, D nhận tiền rồi bảo Đ và H đi xuống bếp nhà D đợi, sau đó D đi l y ra 04 viên Hồng phiến trong lọ nhựa rồi đem xuống bếp đưa cho Đ. Sau khi trao đổi mua bán xong, H hỏi mượn D chiếc tẩu tự chế dùng để sử d ng Hồng phiến thì D chỉ ra góc bếp, H l y tẩu rồi cùng Đ sử d ng Hồng phiến ngay t i bếp nhà D, sử d ng được vài hơi, H hỏi mua tiếp Hồng phiến của D và đưa cho D số tiền 200.000 VNĐ, Diên nhận l y tiền rồi đi lên nhà rồi l y ra 04 viên Hồng phiến từ lọ nhựa rồi đem xuống cho H, H nhận l y rồi tiếp t c ngồi xuống để sử d ng Hồng phiến cùng với Đ. Th y Đ và H sử d ng Hồng phiến, D xin sử d ng cùng và được Đ, H đồng ý. Khi D, Đ và H đang sử d ng Hồng phiến thì bị tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm v phát hiện b t quả tang, thu gi toàn bộ vật chứng nêu trên.

Cáo tr ng số 48/CT-VKSSM ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Lò Văn D về tội Mua bán trái phép ch t ma túy, theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên v n gi nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. h t bị cáo từ 07 đến 08 năm tù. Miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra t i phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa; trên cơ s xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan cùng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận th y như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đ thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nh t với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo hoàn toàn nh t tr và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nh hình ph t.

Do bị m c nghiện ma túy nên bị cáo đ tìm mua ma tuý về sử d ng và bán lẻ kiếm lời. Bị cáo đ bán cho hai người, (tức đối với 02 người trở lên), sau đó bị b t quả tang. Tang vật thu gi được là 0,61 gam Methamphetamine

Như vậy, có cơ s để kết luận: Lò Văn D ph m tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Kh i tố của cơ quan Điều tra và Truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho x hội, xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các ch t ma túy, gây m t trật tự trị an t i địa phương và gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Mua bán ch t ma tuý là vi ph m nhưng v n thực hiện. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo nghiêm kh c, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nh được pháp luật quy định cần áp d ng cho bị cáo được hư ng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đối với Lò Văn Đ và Vì Văn H, có hành vi mua ma tuý với bị cáo để sử d ng, do khối lượng chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Điều tra đ xử ph t hành ch nh là phù hợp. Việc Đ, H sử d ng ma tuý t i nhà bị cáo, do bị cáo là người nghiện và cùng sử d ng ma tuý với Đ và H nên không c u thành tội Chứa ch p việc sử d ng trái phép ch t ma tuý.

Về số ma tuý thu gi được trong v án: Bị cáo khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết nên không có căn cứ để m rộng v án là phù hợp.

Vật chứng v án còn l i: 0,27 gam Methamphetamine là vật c m lưu hành, 01lọ nhựa, 01 bật lửa ga, 02 mảnh gi y b c, 01 tẩu tự chế để sử d ng ma tuý là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu để tiêu hu ; 02 chiếc điện tho i di động t m gi của bị cáo và Vì Văn H không liên quan đến ph m tội, cần trả l i; 400.000VNĐ là tiền do ph m tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Xét th y bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp d ng hình ph t bổ sung (phạt tiền) cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án ph theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn D ph m tội Mua bán trái phép ch t ma tuý.

Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử ph t: Lò Văn D 07 (Bảy) năm tù. Thời gian ch p hành hình ph t tù t nh từ ngày t m gi , t m giam ngày (08/01/2018).

2. Không áp d ng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.

3. Vật chứng: Áp d ng điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hu : 01 (một) Phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng v Lò Văn D SN: 1978, bản N, x C, huyện S, tỉnh Sơn La. Hành vi Mua bán trái phép ch t ma tuý. D4=0,27 gam Hồng phiến. Mặt sau phong bì có dòng ch ký "Cơ quan CSĐT-Công an huyện Sông M . Ngày 09/01/2018" và ch ký, d u vân tay điểm chỉ của thành phần tham gia niêm phong cùng 01 (hai) hình d u đỏ của Cơ quan CSĐT-Công an huyện S, tỉnh Sơn La trên mép giáp lai. Và 01 tẩu hút hồng phiến tự chế, 01 bật lửa ga màu tr ng, hiệu TANAKA đ cũ, 01 mảnh gi y b c cháy xém, không rõ hình d ng, 01 lọ nhựa màu hồng, n p màu tr ng đ cũ.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn) gồm 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) có số Seri lần lượt: UO 14394359 và LI 14521335.

- Trả l i cho bị cáo: 01 điện tho i FPT màu xám - đen; số Imel 1: 980056001331566, số Imel 2: 980056001356563, điện tho i đ cũ.

- Trả l i cho Vì Văn H: 01 điện tho i di động hiệu NOKIA màu tr ng - xanh; số Imel: 358964010908577, điện tho i đ cũ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2018 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện S và Công an huyện S).

4. Về án ph : Áp d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ