- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Chi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2018/HS-ST Ngày 08- 10- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Hữu Bình và ông Vương Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Kim Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang tham gia
phiên tòa: Ông Ngô Xuân Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN THẾ C sinh ngày 06 tháng 4 năm 1974 tại xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng H và bà Nguyễn Thị H1; vợ: Hà Thị M (đã ly hôn năm 2017) và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 19/4/2017 Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng (chấp hành xong ngày 27/4/2018).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2018, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 29/5/2018, Nguyễn Thế C đang ở nhà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H1 ở tổ 31, phường P, thành phố T thì có người đàn ông tên là Đ (C không biết họ của Đ và địa chỉ; C quen biết Đ trong thời gian cùng đi cai nghiện) đến rủ C đi mua Heroine về để cùng nhau sử dụng. C đồng ý và cùng Đ góp tiền, mỗi người góp 200.000đồng, tổng cộng có 400.000đồng. C là người cầm tiền và cùng Đ đi đến khu vực nhà nghỉ M thuộc tổ 35, phường T, thành phố T. C bảo Đ đứng đợi, còn C đi một mình ra khu vực cầu Ch thuộc tổ 2, phường T, thành phố T. C gọi điện thoại cho Đỗ Khắc L trú tại tổ 1, phường T, thành phố T hỏi mua Heroine. L đồng ý và hẹn C chờ L ở đầu cầu Ch. Khoảng 20 phút sau, L đi bộ đến chỗ C đợi, C đưa cho L số tiền 400.000đồng, L đưa cho C 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu đen, bên trong có 02 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi mua được Heroine, C đi đến chỗ Đ đang đợi thì bị tổ công tác Công an phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với C, kết quả (+) dương tính (trong cơ thể C có chất ma túy).
Tại Kết luận giám định số 235/GĐKTHS ngày 31/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà thu giữ của Nguyễn Thế C gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,222g (không phẩy hai hai hai gam).
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSTP ngày 12/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố Nguyễn Thế C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thế C và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang (bên trong có Heroine là mẫu giám định hoàn lại) và 01 sim điện thoại Viettel; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).
Áp dụng các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña Uû ban Th êng vô Quèc héi kho¸ 14 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Toµ ¸n: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm; Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thế C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, bị cáo khai nhận: Bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy nên ngày 29/5/2018 bị cáo đã mua heroine của Đỗ Khắc L với mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ cùng tang vật. Bị cáo cũng khai nội dung của bản kết luận giám định số 235/GĐKTHS ngày 31/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà thu giữ của bị cáo gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, trọng lượng 0,222g (không phẩy hai hai hai gam) là khách quan và chính xác. Bị cáo nhận thấy bản Cáo trạng số 103/CT-VKSTP ngày 12/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo, Công an thành phố Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, HĐXX thấy như vậy là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không thu nhập ổn định và không có tài sản gì nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này còn có Đỗ Khắc L là người mà theo bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra đã xác minh, L không có mặt ở địa phương nên tách ra để giải quyết sau.
Đối với người đàn ông tên là Đ, theo bị cáo khai là người rủ bị cáo và cùng góp tiền đi mua ma tuý với bị cáo, nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra Điều tra viên đã thực hiện nhiệm vụ đúng quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Bị cáo không khiếu nại, thắc mắc gì.
Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:
- Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên quang, bên trong có chứa Heroine là mẫu giám định hoàn lại, đây là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy; thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen cũ, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với sim điện thoại Viettel không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).
- Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña Uû ban Th êng vô Quèc héi kho¸ 14 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Toµ ¸n. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế C 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2018.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang (bên trong có Heroine là mẫu giám định hoàn lại) và 01 sim điện thoại Viettel;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).
Căn cứ các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña Uû ban Th êng vô Quèc héi kho¸ 14 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Toµ ¸n:
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố TQuang; - VKSND tỉnh TQuang; - Cơ quan CSĐT Công an TPTQuang; - Cơ quan THAHS TPTQuang; - Trại tạm giam Công an tỉnh Tquang; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Hương Giang |