vanban.org

Bản án 99/2018/DS-ST — Tranh chấp đất đai

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/10/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Tấn P về việc yêu cầu ông Trần Phú H1, Trần Văn C1, Trần Văn M, Trần Quốc K, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y chấm dứt hành gi trái pháp luật.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Tấn P về việc yêu cầu công nhận lối đi chung. Công nhận phần đất có diện tích 142,4m2 tọa lạc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B (có sơ đồ kèm theo) là lối đi chung, trong đó gồm: 22,2m2 thuộc một phần thửa 1968, tờ bản đồ 8TDH.1 theo giấy chứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp lối đi"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Tấn P về việc yêu cầu ông Trần Phú H1, Trần Văn C1, Trần Văn M, Trần Quốc K, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y chấm dứt hành gi trái pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 99/2018/DS-ST
Ngày 17-10-2018
V/v tranh chấp lối đi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ My Thanh.̃

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Kim Châu Hổ

2. Bà Trần Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Tố Anh – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 11 và 17 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 677/2018/TLST – DS ngày 12 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp lối đi theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 117/2018/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 8 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Tấn P, sinh năm 1981;

Đi ̣a chi: Số 34/4B, khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu H1; địa chỉ: 19/32 đƣờ ng N, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Phú H1, sinh năm 1981;

Đi ̣a chi: Số 144/4B, khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

3. Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Văn C1, sinh năm 1943;

Đi ̣a chỉ: Số 142 (số cũ 34/4B), khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952;

Đi ̣a chỉ: Số 142 (số cũ 33/4B), khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mă ̣t.

3.3. Bà Trần Thị Ngọc Y, sinh năm 1983;

Đi ̣a chỉ: Số 142 (số cũ 34/4B), khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mă ̣t.

3.4. Ông Trần Quốc K, sinh năm 1984;

Đi ̣a chỉ: Số 534/16, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D , tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.5. Bà Trần Thị Thu H2, sinh năm 1978;

Đi ̣a chi: Số 143/4B, khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

3.6. Ông Trần Văn M, sinh năm 1974;

Đi ̣a chi: Số 141/4B, khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

3.7. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1972;

Đi ̣a chỉ: Số 196/4B, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.8. Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1977;

Đi ̣a chỉ: 196/4B, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.9. Ông Trần Ngo ̣c D, sinh năm 1964;

Đi ̣a chỉ: Số 235/4B, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.10. Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1979;

Đi ̣a chỉ: Số 235/4B, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.11. Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1977;

Đi ̣a chỉ: Số 34/4B khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.12. Bà Trịnh Thị H3, sinh năm 1985;

Đi ̣a chỉ: Xã Y, huyê ̣n Y, tỉnh V; tạm trú: Số 246/4, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.13. Ông Tô C3, sinh năm 1982;

Đi ̣a chỉ: Xã Y, huyê ̣n Y, tỉnh V; tạm trú: Số 246/4, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.14. Bà Đặng Thị Kim L1, sinh năm 1974;

2

Đi ̣a chi: Số 38/17, khu phổ

́ T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.15. Ông Pha ̣m Hải Đ1, sinh năm 1977;

Đi ̣a chi: Số 38/17, khu phổ

́ T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.16. Bà Trần Thị B, sinh năm 1969;

Đi ̣a chỉ: Số K4/173C, ấp T, phƣờ ng B, thành phố B, tỉnh Đ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.17. Ông Trƣơng Văn T3, sinh năm 1966;

Đi ̣a chỉ: Số K4/173C, ấp T, phƣờ ng B, thành phố B , tỉnh Đ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.18. Bà Bùi Thị L2, sinh năm 1965;

Đi ̣a chi: Số 25/7, tổ 8, khu phố 2, phƣờ ng L, quâ ̣n T, thành phố H; đi ̣a chi

̉

̉ liên hê ̣: Tổ 16, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.19. Bà Hoàng Thị H4, sinh năm 1987;

Đi ̣a chi: Số 34/4B, khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.20. Bà Trần Thị Kim H5, sinh năm 1979;

Đi ̣a chỉ: Số 144/4B, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.21. Bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1977;

Đi ̣a chỉ: Số 141/4B, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D , tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.22. Ông Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1988;

Đi ̣a chỉ: 134/20, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.23. Bà Lê Thị Trà G, sinh năm 1988;

Đi ̣a chỉ: 134/20, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.24. Ông Nguyễn Ngo ̣c T5, sinh năm 1983;

Đi ̣a chi: Tổ 16, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải

̉ quyết vắng mă ̣t.

3.25. Bà Huỳnh Thị T3, sinh năm 1960;

3

Đi ̣a chi: Tổ 16, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải

̉ quyết vắng mă ̣t.

- Ngườ i là m chứ ng:

1. Trần Thi ̣ Kim L3, sinh năm 1966;

Đi ̣a chi: Tổ 6, khu phố 4, xã V, huyện V, tỉnh Đ. Vắng mă ̣t.

̉

2. Ông Đỗ Văn H2, sinh năm 1976;

Đi ̣a chỉ: Số 77, đƣờ ng D1, khi phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D , tỉnh B. Vắng mă ̣t.

3. Bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1953;

Đi ̣a chỉ: Số 34/4B, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

4. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1971;

Đi ̣a chi: Tổ 9, khu phố 4, thị trấn V, huyê ̣n V, tỉnh Đ. Vắng mă ̣t.

̉

5. Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1964;

Đi ̣a chi: Khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

6. Ông Đă ̣ng Văn Đ2, sinh năm 1951;

Đi ̣a chi: Khu phổ

́ Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn kh ởi kiện ngày 06 tháng 12 năm 2017; đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/12/2017; đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 10/5/2018; lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ á n và tại phiên tò a nguyên đơn ông Trần Tấn P trình bày:

Ông Trần Tấn P là chủ sử dụng phần đất có diện tích 117,7m2 thuô ̣c thƣ̉ a đất 2020, tờ bản đồ số 8TDH.1 tọa lạc khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D , tỉnh B. Phần đất này có nguồn gốc của cha ông là Trần Văn C 2 để lại. Ông nội ông là ông Trần Văn Q sau khi chết có để lại phần đất giáp đƣờng B. Phần đất này đƣợc chia cho hai ngƣời con là ông Trần Văn C2 và ông Trần Văn C1 (cha ông Trần Phú H). Ông C2 đƣợc chia phần đất bên trong, ông C1 đƣợc chia phần đất bên ngoài giáp đƣờng B. Việc phân chia chỉ nói miệng, không làm giấy tờ. Khi chia không nói gì về đƣờng đi nhƣng từ sau khi chia đất đến nay, gia đình ông C2 ở bên trong sử dụng lối đi cặp bên hông đất ông C1 để đi ra đƣờng B. Ngoài lối đi này không có lối đi nào khác để ra đƣờng công cộng. Từ trƣớc đến nay giữa hai gia đình thuận thảo thì việc đi lại bình thƣờng. Lối đi này đã đƣợc hình thành rất lâu, từ khi ông P sinh ra là đã có. Tƣ̀ đầu năm 2016, ông Trần Văn M, ông Trần Phú H1, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y (là những ngƣời con đƣợc ông Trần Văn C1 cho đất) và ông Trần Văn C 1 có hành vi cản trở , không cho ông P sử dụng lối đi này. Tháng 12/2017, ông Trần Phú H1 có hành vi dùng hàng rào lƣới B40 chắn ngang lối đi vì cho rằng phần đất từ trƣớc đến nay ông P

4

sƣ̉ du ̣ng làm lối đi chỉ là đi nhờ lối đi của gia đình ông C1 và nằm trong giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất của ông H1 nên không cho ông P đi vào nhà của mình, đồng thờ i ông H1 yêu cầu ông P phải trả tiền để đƣợc sử dụng lối đi này.

Tại đơn khởi kiện ngày 06/12/2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/12/2017 ông P yêu cầu ông Trần Phú H1, ông Trần Quốc K, bà Trần Thị Ngọc Y, bà Trần Thị Thu H2, ông Trần Văn M và ông Trần Văn C1 chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng lối đi của ông và yêu cầu Tòa án công nhận đƣờng đi đang tranh chấp là đƣờng đi chung, diện tích đƣờng đi tạm tính là 70m2. Sau khi Tòa án tiến hành đo đạc thực tế, ông P có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 10/5/2018 với nội dung: Rút yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật do ông H1 đã tháo dỡ rào chắn ngang lối đi; xác định diện tích đất yêu cầu công nhận là đƣờng đi chung theo diện tích đo đạc thực tế là 142,4m2.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn ngày 10/5/2018; đồng thời tự nguyện hỗ trợ cho ông Trần Văn C1 100.000.000 đồng.

- Tại đơn yêu cầ u phản tố ngà y 18/4/2018, lờ i khai trong quá trinh giải

̀ quyết vụ á n và tại phiên tò a, bị đơn ông Trần Phú H1 trình bày:

Phần đất mà ông Trần Tấn P tranh chấp yêu cầu công nhận là lối đi chung thuộc một phần diện tích đất thuộc giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất c ấp cho ông H1 và những ngƣời có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn M , bà Trần Thi ̣ Thu H 2, bà Trần Thị Ngọc Y và ông Trần Văn C 1. Phần đất này có nguồn gốc của cha ông H1 là ông Trần Văn C1 cho tƣ̀ năm 1996, đến năm 1999 ông H1 cất nhà ở . Thƣ̣c tế , nguồn gốc đất từ xƣa là của ông nô ̣i là Trần Văn Q cho ông Trần Văn C 2 và ông Trần Văn C 1 mỗi ngƣờ i mô ̣t phần , phần đất của ông Trần Văn C 2 nằm bên trong hiện nay ông P sử dụng. Trƣớc đây, gia đình ông C2 sử dụng con đƣờng cặp theo đất của ông C1 để đi ra đƣờng công cộng. Con đƣờng này do gia đình ông C1 chừa ra để gia đình ông C1 sử dụng, đánh xe bò đi vô phía sau nhà và cho ông C2 đi nhờ. Khoảng năm 1995, con rễ ông C2 về cất xƣởng làm thạch cao trên đất ông C2 cũng có xin ông C1 cho xe tải chở hàng đi nhờ ra vô đƣờng này. Tuy nhiên, ông H1 xác định chỉ cho gia đình ông C2, nay là ông P đi nhờ, đƣờng đi này vẫn thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C1, ông C1 đã cho ông H1 và ông H1 cũng đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trƣờng hợp phải dành ra lối đi cho phần đất bên trong của gia đình ông P và những hộ dân khác đang sử dụng đất của ông P thì ông H1 chỉ cho đi với chiều ngang 0,7m, dài hết chiều dài lối đi đang tranh chấp. Phần diện tích còn lại ông P phải trả cho ông ½ giá trị theo giá Hội đồng định giá đã định.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/3/2018 những ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T 1, bà Nguyễn Thị Kim L 1, bà Nguyễn Thi ̣ Thanh T2, ông Trần Ngọc T 2, bà Đặng Thị Kim L 1, ông Phạm Hải Đ 1, ông Trần Ngọc D trình bày: Các ông, bà là những ngƣời sử dụng đất có nguồn gốc của ông Trần Văn C2 và từ trƣớc đến nay sử dụng lối đi đang tranh chấp, ngoài

5

lối đi này ra không có lối đi nào khác để ra đƣờng công cộng. Do vậy, các ông, bà có cùng ý kiến vớ i nguyên đơn ông Trần Tấn P đề nghị Tòa án giải quyết công nhâ ̣n phần đất đang tranh chấp là lối đi chung.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2018 và đơn yêu cầu độc lập ngày 18/4/2018 ông Trần Văn C1, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y, ông Trần Quốc K, ông Trần Văn M , biên bản lấy lờ i khai ngà y 04/6/2018 bà Nguyễn Thị T1 có cùng ý kiến: Thống nhất vớ i quan điểm của bị đơn ông Trần Phú H1, phần lối đi đang tranh chấp có nguồn gốc củ a ông nô ̣i là Trần Văn Q để lại cho cha là Trần Văn C 1. Ông Trần Văn C 2 là anh ruột ông Trần Văn C1 cũng đƣợc chia phần đất bên trong. Sau khi chia đất, ông Trần Văn C2 có sƣ̉ du ̣ng lối đi nhờ qua đất của ông Trần Văn C1 nhƣng chỉ là lối mòn nhỏ, đến năm 2008 ông Trần Văn C1 xây dƣ̣ng nhà tro ̣ con đƣờ ng mớ i đƣợc nớ i rô ̣ng nhƣ hiê ̣n nay . Lối đi này gia đình ông C1 khi chia đất cho các con cũng vẫn chừa ra để gia đình sử dụng chung. Từ trƣớc đến nay gia đình ông C1 và ông C2 thuận thảo nên vẫn để cho gia đình ông C2 đi nhờ. Tuy nhiên, lối đi này vẫn thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C1, bà H2, bà Y, ông K, ông M. Do đó, hiện nay ông P muốn đi chung thì phải trả giá trị tƣơng đƣơng diện tích của ông C1, bà H2, bà Y, ông K, ông M đã bỏ ra làm lối đi chung. Tại phiên tòa, bà H2 và bà Y yêu cầu ông P phải trả tiền đối với ½ diện tích đất làm lối đi theo giá Hội đồng định giá đã định.

- Tại bản tự khai ngà y 01/6/2018 ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T 4, bà Lê Thị Trà G có cùng ý kiến : Ông, bà hiện đang sử dụng phần đất có nguồn gốc của ông Trần Văn C2 và sƣ̉ du ̣ng lối đi đang tranh chấp để đi ra đƣờng B. Hiện nay ông, bà không ý kiến gi.

̀

- Tại bản tự khai ngày 15/4/2018 bà Trần Thị Kim H5, bà Nguyễn Thị H6, ông Nguyễn Ngọc Tinh ; bản tự khai ngày 30/7/2018 bà Huỳnh Thị T 3, bà Bùi

́ Thị L 2, bà Trần Thị B , ông Trương Văn T3: Có cùng ý kiến vớ i bi ̣ đơn ông Nguyễn Phú H1.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2018 và bản tự khai ngày 12/6/2018 bà Trần Thị H 3, ông Tô C3 có cùng quan điểm : Lối đi đang tranh chấp trƣớ c đây ông, bà đã có thỏa thuâ ̣n vớ i bà Nguyễn Thi ̣ T 1 để đƣợc sử dụng lối đi này . Nay các bên tranh chấp ông, bà không có ý kiến gi, đề nghị Tòa án giải quyết

̀ theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2018 ngườ i là m chứ ng Đặng Văn Đ2 trình bày: Ông là chủ sƣ̉ du ̣ng đối vớ i phần đất thuô ̣c thƣ̉ a 620 liền kề vớ i phần đất mà các bên đƣơng sƣ̣ tranh chấ p. Gia đinh ông Trần Văn C 1 và ông Trần

̀

Văn C2 có chừa ra lối đi chung từ năm 1995, lối đi có chiều ngang tƣ̀ 2,5m đến 3m. Tƣ̀ trƣớ c đến nay anh em trong gia đinh sƣ̉ du ̣ng lối đi không có ai tranh

̀

chấp nhƣng tƣ̀ năm 2016 ông Trần Văn T 1 bán đất cho ngƣờ i khác t hì gia đinh

̀ ông Trần Văn C1 yêu cầu phải trả tiền mớ i đƣợc sƣ̉ du ̣ng lối đi này.

6

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2018 người làm chứng Nguyễn Văn U trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Trần Văn Q cho ông Trần Văn C2 và Trần Văn C 1. Khi gia đinh chi a đất thi ông Trần Văn C 2 đƣợc

̀

̀ chia phần đấ t bên trong, ông Trần Văn C 1 đƣợc phần đất bên ngoài và có chƣ̀ a ra mô ̣t phần đất làm lối đi chung đi ngang qua đất ông Tr ần Văn C1. Tƣ̀ trƣớ c đến nay các bên sử dụng đất không ai có ý kiến gì nhƣng đến năm 2016 gia đinh

̀ ông Trần Văn C 1 tranh chấp vớ i cá c con của ông Trần Văn C 1, các b ên thỏa thuâ ̣n phia ông C 2 sẽ trả cho gia đình ông C 1 100.000.000 đồng, đa đƣa trƣỡ

́ c

́ 20.000.000 đồng nhƣng sau đó các bên không tiếp tu ̣c thƣ̣c hiê ̣n theo thỏa thuâ ̣n. Viê ̣c nhà nƣớ c cấp giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất nhƣng không thể hi ện có lối đi là có thiếu sót đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2018 những ngườ i là m chứ ng bà Trần Thi ̣ Kim L 3, bà Trần Thị A, ông Đỗ Văn H2, bà Nguyễn Thị L 4 có cùng ý kiến: Con đƣờ ng đ i vào đất ông Trần Tấn P là lối đi duy nhất có chiều ngang khoảng 3m và có tƣ̀ lâu đờ i . Tƣ̀ xƣa mo ̣i ngƣờ i đều sƣ̉ du ̣ng con đƣờ ng này không có ai tranh chấp nhƣng tƣ̀ năm 2015 ông Trần Văn T1 bán đất thì gia đình ông Trần Văn C1 yêu cầu phải trả tiền mớ i đƣợc sƣ̉ du ̣ng đƣờ ng đi.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: Phần lối đi đang tranh chấp có diện tích 142,4m2, trong đó có: 22,2m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H09226 cấp cho ông Trần Văn M; 21m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Phú H1; 21,2m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị Thu H2; 18,4m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị Ngọc Y và 59,6m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn C1. Tổng giá trị diện tích lối đi đang tranh chấp đƣợc Hội đồng định giá 6.000.000 đồng/m2, thành tiền 854.400.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận lối đi đang tranh chấp là lối đi chung là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận và buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập giá trị đất theo yêu cầu tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn C1, Trần Quốc K, Trần Văn M, Trần Văn T1, Nguyễn Thị Kim L1, Trần Ngọc D, Nguyễn Thị Thanh T2, Trần Ngọc T2, Trịnh Thị H3, Tô C3, Đặng Thị Kim L1, Phạm Hải Đ1, Trần Thị B, Trƣơng Văn T3, Bùi Thị L2, Hoàng Thị H4, Trần Thị Kim H5, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thanh T4, Lê Thị Trà G, Nguyễn Ngọc T5, Huỳnh Thị T3 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này.

7

Quá trình tố tụng, do ông Trần Phú H1 đã tháo rào chắn ngang lối đi và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có hành vi cản trở việc sử dụng lối đi của ông P nên ông P đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật. Căn cứ Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút.

Xét nguồn gốc đất của ông Trần Tấn P, ông Trần Phú H1, ông Trần Văn C1, ông Trần Văn M, ông Trần Quốc K, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y đang quản lý sử dụng đều có nguồn gốc của ông Trần Văn Q để lại cho ông Trần Văn C2 và ông Trần Văn C1. Ông Trần Văn C1 đƣợc chia phần đất bên ngoài giáp đƣờng B và đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2306QSDĐ/CQTĐH ngày 26/8/1996 với diện tích 2.520m2 thuộc thửa 261, tờ bản đồ số 8. Ông Trần Văn C đƣợc chia phần đất nằm phía trong và đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2915QSDĐ/CQTĐH ngày 26/8/1996 với diện tích 4.732m2 thuộc thửa 262, 263, tờ bản đồ số 8. Ông Trần Tấn P sử dụng đất có nguồn gốc thừa kế của ông C2. Ông H1, ông M, ông K, bà H2, bà Y sử dụng đất có nguồn gốc của ông C1 cho.

Mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C1 và ông C2 đều không thể hiện đƣờng đi từ đất của ông C2 ra đƣờng B. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, ông P, ông H1, bà T1, ông C1 đều thừa nhận từ khi chia đất thì gia đình ông P ở phía trong có sử dụng lối đi đang tranh chấp để đi ra đƣờng B. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/4/2018, ông Công khai: “Ông P đã sử dụng đất từ trước năm 1970… sử dụng lối đi nhờ qua đất của ông”. Tại Biên bản lấy lời khai ngƣời làm chứng ông Nguyễn Văn U, hiện là Trƣởng Ban điều hành khu phố Đ xác định khi chia đất thì có chừa ra một lối đi chung ngang qua đất ông C1 có chiều rộng khoảng 3m. Ngƣời làm chứng ông Đặng Văn Đ2 trình bày: Gia đình ông Trần Văn C1 và ông Trần Văn C2 có chừa ra lối đi chung từ năm 1975, lối đi này có chiều ngang khoảng 2,5m đến 3m. Điều này phù hợp với lời khai của ông Trần Phú H1 tại biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2018: “Từ xưa chúng tôi đã chừa một phần đất khỏang 3m để anh em cùng đi nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện. Ông C2 cũng sử dụng phần đất này để đi vào nhà của mình”. Tại phiên tòa, bà T1 cũng khai từ xƣa đã có con đƣờng để gia đình bà đánh xe bò đi vào bên trong và gia đình ông C2 cũng sử dụng con đƣờng này.

Bị đơn ông H1 và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C1, bà T1, ông K, ông M, bà H2, bà Y cho rằng từ trƣớc đến nay gia đình ông

8

C2, sau này là ông P và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác hiện đang sử dụng đất có nguồn gốc của ông C2 chỉ đi nhờ qua đất của ông C1 là không phù hợp với thực tế. Bởi lẽ: Việc phân chia đất này các đƣơng sự và những ngƣời làm chứng đều xác định đã đƣợc thực hiện từ trƣớc năm 1975; gia đình ông C2 có sử dụng lối đi này để ra đƣờng cộng. Thực tế, từ trƣớc đến nay xung quanh tứ cận đất phần đất chia cho ông C2 không tiếp giáp với đƣờng công cộng. Chứng tỏ thực tế gia đình ông C2 đã sử dụng lối đi này từ rất lâu và là lối đi duy nhất ra đƣờng công cộng. Hơn nữa, về mặt pháp lý khi chia đất thì phải chừa lối đi cho ngƣời đƣợc chia đất phía bên trong. Năm 1996, ông C1 và ông C2 đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mà hai ông đƣợc chia nhƣng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện lối đi vào phần đất chia cho ông C2 là không đúng với hiện trạng sử dụng đất thực tế và quy định của pháp luật tại Khoản 3 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 1995: “Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau, thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.”. Ông C2 là ngƣời đƣợc chia đất phía trong thì ông C2 (nay là ông P và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng đất có nguồn gốc của ông C2) phải đƣợc bảo đảm quyền sử dụng lối đi mà không phải đền bù.

Từ những phân tích trên, đối chiếu với quy định của pháp luật xét thấy, lối đi theo hiện trạng đang có tranh chấp nguyên đơn yêu cầu công nhận là lối đi chung là có căn cứ chấp nhận. Bị đơn có yêu cầu phản tố và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu nguyên đơn phải trả tiền sử dụng đất đối với diện tích đất của lối đi thực tế là không có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, tại phiên tòa ông P đồng ý hỗ trợ cho ông Trần Văn C1 số tiền 100.000.000 đồng. Đây là ý chí tự nguyện của ông P nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị công nhận lối đi đang tranh chấp là lối đi chung là phù hợp. Tuy nhiên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập giá trị diện tích đất dùng làm lối đi chung theo yêu cầu là không phù hợp.

Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chi ̣u án phi có giá nga ̣ch đối

́ vớ i số tiền nguyên đơn phải trả cho bi ̣ đơn. Bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan co yêu cầu độc lập phải chịu án phí không có giá ngạch đối

9

với yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập không đƣợc Tòa án chấp nhận. Ngƣờ i có quyền lợi nghia vụ liên quan ông Trần Văn C 1 thuô ̣c trƣờ ng hợp ngƣờ i cao tuổi

̃ nên đƣợc xem xét miễn án phi.

́

Chi phi xem xét thẩm đi ̣nh , đo đa ̣c và đi ̣nh giá tài sản tranh chấp :

́ Nguyên đơn tƣ̣ nguyê ̣n chi ̣u.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 1995;

Căn cứ các Điều 144, 147, 228, 244 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Tấn P về việc yêu cầu ông Trần Phú H1, Trần Văn C1, Trần Văn M, Trần Quốc K, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y chấm dứt hành gi trái pháp luật.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Tấn P về việc yêu cầu công nhận lối đi chung.

- Công nhận phần đất có diện tích 142,4m2 tọa lạc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B (có sơ đồ kèm theo) là lối đi chung, trong đó gồm: 22,2m2 thuộc một phần thửa 1968, tờ bản đồ 8TDH.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H09226 ngày 25/3/2008 cấp cho ông Trần Văn M (ký hiệu A1); 21m2 thuộc một phần thửa 1967, tờ bản đồ 8TDH.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H09228 ngày 25/3/2008 cấp cho bà Trần Thị Ngọc Y và ông Trần Quốc K (ký hiệu B1); 21,2m2 thuộc một phần thửa 1966, tờ bản đồ 8TDH.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H09225 ngày 25/3/2008 cấp cho ông Trần Phú H1 (ký hiệu C1); 18,4m2 thuộc một phần thửa 1965, tờ bản đồ 8TDH.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H09227 ngày 25/3/2008 cấp cho bà Trần Thị Thu H2 (ký hiệu D1); 59,6m2 thuộc một phần thửa 261, tờ bản đồ số 8 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2306QSDĐ/CQTĐH ngày 26/8/1996 cấp cho ông Trần Văn C1 (ký hiệu E1).

- Kiến nghị Uỷ ban nhân dân thị xã Dĩ An điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Phú H1 (số H09225), ông Trần Văn C1 (số 2306QSDĐ/CQTĐH), ông Trần Văn M (số H09226), bà Trần Thị Thu H2 (số H09227), ông Trần Quốc K và bà Trần Thị Ngọc Y (số H09228) cho đúng với

10

diện tích đất thực tế đƣợc quyền sử dụng sau khi điều chỉnh diện tích đất làm lối đi chung theo quyết định của Bản án có hiệu lực pháp luật.

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Tấn P về việc hỗ trợ cho ông Trần Văn C1 số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Phú H1 và yêu cầu độc lập của những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Trần Văn C1, ông Trần Văn M, ông Trần Quốc K, bà Trần Thị Thu H2, bà Trần Thị Ngọc Y về việc yêu cầu ông Trần Tấn P phải thanh toán giá trị diện tích đất dùng làm lối đi chung.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Tấn P phải chịu 5.000.000 (Năm triệu) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo hai biên lai thu tiền số 0018612 ngày 12/12/2017 và biên lai thu tiền số 0019402 ngày 14/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, ông Trần Tấn P còn phải nộp 1.200.000 (Mô ̣t triê ̣u hai trăm nghìn) đồng.

Ông Trần Phú H1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), khấu trƣ̀ vào số tiền ta ̣m ƣ́ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu tiền số 0019270 ngày 18/4/2018

́ của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, trả lại cho ông Trần P hú H 1 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí còn lại.

Ông Trần Văn M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019268 ngày 18/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An. Trả lại cho ông Trần Văn M 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí còn lại.

Bà Trần Thị Thu H 2 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019269 ngày 18/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An. Trả lại cho bà Trần Thị Thu H2 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí còn lại.

11

Ông Trần Quốc K và bà Trần Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019293 ngày 20/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An. Trả lại cho ông Trần Quốc K và bà Trần Thị Ngọc Y 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí còn lại.

Ông Trần Văn C 1 đƣợc miễn án phi dân sƣ̣ sơ thẩm, trả lại cho ông C số

́

500.000 (Năm trăm ngàn đồng) tiền ta ̣m ƣ́ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu ti ền

́ số 0019271 ngày 18/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.

5. Chi phi xem xét thẩm đi ̣nh , đo đa ̣c và đi ̣nh giá tài sản tr anh chấp: Ông

́ Trần Tấn P tƣ̣ nguyê ̣n chi ̣u số tiền 3.470.000 (Ba triê ̣u bốn trăm bảy mƣơi ngàn ) đồng, khấu trƣ̀ vào tiền ta ̣m ƣ́ ng ông Trần Tấn Phát đa nô ̣̃ p.

6. Các đƣơng sự có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

̀

̉

Cỡ chữ