- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vĩnh Chức, Phạm Đình Hiến phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2017/HSST Ngày: 08/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Yến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lan.
2.Ông Phạm Văn Tuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc: Ông Nguyễn Quang Hóa
- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2017/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2017/HSST-QĐ ngày 26/10/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 08/7/1999.
ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Trình độ văn hóa: 10/12.
Bố đẻ: Không xác định được tên tuổi, địa chỉ. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/9/2017 đến ngày 11/9/2017 chuyển tạm giam tại trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương đến nay “ Có mặt”
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Văn M là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 07/9/2017, M đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà ở thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương lên khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Mục đích tìm một người thanh niên theo M khai tên là C (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua Heroin về sử dụng. Khi gặp C, M lấy 200.000đồng đưa cho C và nói “ Anh để cho em hai trăm”. C hiểu ý M muốn mua Heroin nên đồng ý. C nhận tiền rồi lấy trong túi quần ra 01 gói Heroin đưa cho M. Sau khi mua được Heroin, M cầm gói Heroin trong lòng bàn tay trái và đi bộ trên đoạn đường thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 lớp giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng, M khai nhận đó là Heroin cất giấu để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 357/KLGĐ ngày 09/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (Dạng cục) mầu trắng, ghi thu của Nguyễn Văn M gửi giám định có trọng lượng 0,226 gam là loại Heroin.
Tại bản cáo trạng số 94/VKS-HS ngày 12/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/9/2017.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 0,166 gam Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Về án phí : Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 21 giờ ngày 07/9/2017, tại khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã Đ, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn M đang có hành vi cất giấu trái phép trong lòng bàn tay trái 01 gói Heroin có trọng lượng 0,226 gam, M khai cất giấu Heroin với mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời là bài học phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chỉ vì do nghiện ma túy nên đi mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân, hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật nên việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung có hiệu quả. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, HĐXX xét thấy do khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 cao hơn so với khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13. HĐXX áp dụng cho bị cáo mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy cất giấu để sử dụng không có mục đích tư lợi nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,166 gam Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong lại trong 01 phong bì thư dán kín số 357/KLGĐ- PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về nguồn gốc ma túy, M khai mua của người đàn ông tên C (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được cụ thể là ai nên không đặt ra xử lý là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 15 (Mười lăm ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/9/2017.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu cho tiêu hủy : 01 phong bì có dấu niêm phong số 357/ KLGĐ - PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Gia Lộc và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 07/11/2017.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Gia Lộc;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
- Trại giam Kim Chi;
- Công an huyện Gia Lộc;
- Chi cục THADS huyện Gia Lộc;
- Bị cáo;
Đỗ Thị Minh Yến
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Phạm Vĩnh Chức, Phạm Đình Hiến về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Phạm Vĩnh Chức, Phạm Đình Hiến. Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Vĩnh Chức.
Xử phạt bị cáo Phạm Vĩnh Chức từ
đến tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Đình Hiến từ đến
tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2017.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 chiếc cân tiểu ly điện tử.
Về án phí:Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 31/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do có sự thảo thuận giữa Phạm Vĩnh Chức và Phạm Đình Hiến về việc Hiến bán thuê ma túy cho Chức. Ngày 24/02/2017 Phạm Vĩnh Chức có đưa cho Phạm Đình Hiến 10 hói Heroin để Hiến mang bán, sau đó Hiến đã sử dụng 02 gói, còn lại 08 gói. Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 27/02/2017 tại khu vực nghĩa trang thuộc khu 5, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Phạm Đình Hiến đang bán 02 gói Heroin có trọng lượng 0,065 gam cho đối tượng tự khai là Trần Văn Vĩnh để lấy số tiền 200.000đồng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Hải Dương phối hợp với Công an thị trấn Gia Lộc phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng. Thu giữ trong tất chân của Hiến 06 gói Heroin có trọng lượng 0,344gam. Mục đích để bán. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Chức, thu giữ 10 gói Heroin có tổng trọng lượng 1,816 gam và 05 gói Methamphetamine có tổng trọng lượng 0,728gam và 01 chiếc cân tiểu ly. Chức khai cất giấu số ma túy trên với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Tổng trọng lượng số may túy Chức đã đưa cho Hiến để bán và cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời là 2,225 gam Heroin và 0,728gam Methamphetamine. Tổng trọng lượng ma túy Hiến đã bán và cất giấu để bán thuê cho Chức kiếm lời là 0,409 gam.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo Chức nhận thức được hành vi mua ma túy về cất giấu và thỏa thuận với bị cáo Hiến để cho Hiến bán thuê nhằm mục đích kiếm lời. Bị cáo Hiến nhận thức hành vi bán thuê trái phép chất ma túy cho Chức, để Chức trả công cho bằng hình thức lấy ma túy sử dụng và được Chức nuôi ăn là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời là bài học phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Vĩnh Chức có 01 tiền án, tại bản án hình sự số 976 ngày 30/6/2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử 02 năm 6 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 07 năm 6 tháng tù về tôi Chức chấp sử dụng trái phép chất ma túy, Chức phải chấp hành 09 tháng tù của bản án số 16 ngày 18/7/2002 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội và hai bản án là 10 năm 9 tháng tù. Ngày 21/01/2012 Chức chấp hành xong bản án. Ngày 18/6/2012 Chức thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, tạ bản án hình sự số 155/ HSST ngày 11/9/2012 Tòa án nhân dân thnahf phố Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 18/6/204 Chức chấp hành xong bản án. Theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo chưa được xóa án tích thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới. Do vậy bị cáo Chức chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Tái phạm”: quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Đình Hiến không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy rằng, các bị cáo Chức, Hiến đều là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo Chức đã từng bị kết án, bị cáo Hiến đã từng bị kết án và xử lý hành chính nhưng cả hai bị cáo không lấy đó là bài học để sửa chữa, cải tạo thành người tốt có ích cho gia đình, xã hội mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
Về xử lý vật chứng: Đối với gam mẫu có Heroin và gam mẫu có Methamphetaminen là mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong lại trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số /C54 (TT2), đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc còn thu giữ 200.000đồng của bị cáo Hiến là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước
Về nguồn gốc ma túy, Chức khai đã mua của một người đàn ông ở khu vực ga tầu, thuộc địa phận thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không xác định được tên,tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vĩnh Chức, Phạm Đình Hiến phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20, Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Phạm Vĩnh Chức
tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2017.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20, Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Phạm Đình Hiến
tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2017.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự ; điểm a,c khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu cho tiêu hủy : 01 phong bì dán kín có dấu niêm phong số /C54(TT2) của Viện khoa học kỹ thuật hình sự - Tổng cục cảnh sát bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày / /2017
4. Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 về án, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Vĩnh Chức và Phạm Đình Hiến mỗi bị cáo phải chịu
200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gia Lộc; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại giam Kim Chi; - Công an huyện Gia Lộc; - Chi cục THADS huyện Gia Lộc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Minh Yến |