- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Công T-Ủy ban nhân dân quận T1"
- Tòa quyết gì? !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ________________________________ Bản án số: 987/2020/HC-ST Ngày: 14/7/2020 V/v kH1 kiện quyết định hành |
chính trong quản lý đất đai về
thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư.
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"tòa: Bà Đỗ Thị Kim Phượng
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1. Bà Lê Thị Nhung
2. Bà Phạm Đắc Mỵ T2
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lệ Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa:!Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.!
Trong các ngày 16 tháng 6 và 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh đã T4 hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành
chính thụ lý số 299/2019/HCST ngày 04 tháng 10 năm 2019 về việc “KH1 kiện
quyết định hành chính trong quản lý đất đai về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2425/2020/QĐXXST-HC ngày
13 tháng 5 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 5270/2020/QĐST-HC ngày
29 tháng 5 năm 2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 6302/2020/QĐST-
HC ngày 16 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Người"khởi"kiện:"Ông Nguyễn!Công!T, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Số 39 Đường số 22, phường L, quận T1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện:"Luật sư Vũ
Huyền T2 – Văn phòng Luật sư Vũ Huyền T2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Người"bị"kiện:!Ủy!ban!nhân!dân!quận!T1."!
Địa chỉ: Số 43 đường Nguyễn Văn Bá, phường B, quận T1, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người"đại"diện"hợp"pháp"của"người"bị"kiện:"Ông Nguyễn Hữu Anh T3,!
Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T1 (Giấy ủy quyền số 5029/GUQ-UBND cùng ngày 13/11/2019).
Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện:
- Ông Nguyễn Thanh H, Chức vụ: Phó Trưởng Ban bồi thường, giải phóng
mặt bằng quận T1;
- Ông Nguyễn Hữu T4, Chức vụ: Nhân viên Ban bồi thường, giải phóng mặt
bằng quận T1;
- Ông Nguyễn Trí Đức, Chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi
trường quận T1;
- Ông Phạm Quang H1, Chức vụ: Công chức Địa chính – Xây dựng – Đô thị
và Môi trường của Ủy ban nhân dân phường L quận T1.
3. Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:" Bà Nguyễn!Thái!Thị!Mỹ!L,
sinh năm 1969.
Địa chỉ: Số 39 Đường số 22, phường L, quận T1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Nhà – đất tọa lạc tại địa chỉ 17/7 ấp Bình Quới 2 (nay là 39 và 39/1
Đường 22), phường L, quận T1, theo các giấy chứng nhận diện tích được thể hiện như sau:
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của Ủy
ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh số hồ sơ gốc 1831/2000 ngày 07/03/2000 (gọi Giấy 1831/2000), diện tích đất ở được công nhận 439m2 thuộc thửa 618, tờ bản đồ số 2 Bộ địa chính xã L, huyện T1; Diện tích nhà ở 159,12m2, diện tích xây dựng 78,46m2.
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của Ủy
ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh số hồ sơ gốc 22781/2002 ngày 26/12/2002 (gọi Giấy 22781/2000), diện tích đất ở được công nhận 200m2 thuộc thửa 656, tờ bản đồ số 2 Bộ địa chính xã L, huyện T1; Diện tích nhà ở 150,66m2, diện tích xây dựng 70m2.
Ngày 09/03/2016, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Ủy ban
Thành phố) ban hành Văn bản số 951/UBND-ĐTMT về việc chấp thuận chủ
trương thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối từ
đường Phạm Văn Đồng đến nút giao thông Gò Dưa – Quốc lộ 1 tại quận T1 (gọi
Dự án tuyến đường kết nối đường Phạm Văn Đồng).
Ngày 07/8/2017, Ủy ban Thành phố ban hành Quyết định số 4192/QĐ-
UBND về phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ và mức
hỗ trợ đào tạo, chuyển đồi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm của Dự án tuyến
đường kết nối đường Phạm Văn Đồng.
Ngày 07/11/2017, Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng của
Dự án (gọi Hội đồng bồi thường) ban hành Phương án số 57/PA-HĐBT (gọi
Phương án 57/PA-HĐBT) và được phê duyệt theo Quyết định số 7101/QĐ-UBND
ngày 07/11/2017 của Ủy ban nhân dân quận T1 (gọi Ủy ban T1).
Ngày 11/6/2018, Ủy ban T1 ban hành Quyết định số 3376/QĐ-UBND
(gọi Quyết định 3376/QĐ-UBND) về việc thu hồi diện tích đất 399,3m2 (Khu
đất) thuộc một phần thửa số 240, tờ bản đồ số 35 Bộ địa chính phường L quận
T1 (theo tài liệu bản đồ địa chính năm 2004 của ông Nguyễn Công T – bà
Nguyễn Thái Thị Mỹ L. Vị trí ranh giới Khu đất được xác định theo Bản đồ hiện
trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-13) và Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016
(LĐ-14) do Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Xây dựng - Đo đạc Phan
Gia lập ngày 29/02/2016.
Ngày 12/6/2018, Ủy ban T1 ban hành Quyết định số 3383/QĐ-UBND
(gọi Quyết định 3383/QĐ-UBND), kèm Phương án 348/PA-HĐBT ngày
15/5/2018 để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Dự án tuyến đường kết nối
đường Phạm Văn Đồng, cụ thể:
1.Giấy 1831/2000, bồi thường:
- Đất ở: 218m2 x 25.168.500 đồng = 5.486.733.000 đồng;
- Đất nông nghiệp: 125.7m2 x 3.610.000 đồng = 453.777.000 đồng;
2. Giấy 22781/2002, bồi thường:
- Đất ở: 38.80m2 x 25.168.500 đồng = 976.537.800 đồng;
- Đất nông nghiệp: 16.8m2 x 3.610.000 đồng = 60.648.000 đồng;
3. Nhà – vật kiến trúc: 1.156.978.298 đồng;
4. Tài sản khác: 11.800.000 đồng;
5. Hoa màu: 6.793.734 đồng;
6. Thưởng: 7.500.000 đồng.
Ngày 22/7/2019, Ủy ban T1 ban hành Quyết định số 4011/QĐ-UBND
(Quyết định 4011/QĐ-UBND) kèm Phương án số 76/PA-HĐBT ngày 27/5/2019 về việc chi trả bồi thường, hỗ trợ bổ sung tài sản gắn liền với đất cho ông T – bà L số tiền 151.664.324 đồng.
Không đồng ý Quyết định 3376/QĐ-UBND, Quyết định 3383/QĐ-
UBND và Quyết định 4011/QĐ-UBND, ông T khởi kiện tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
*" Tại" Đơn" khởi" kiện" ngày" 28/5/2019;" Đơn" khởi" kiện" bổ" sung" ngày"
10/6/2019;"Đơn"khởi"kiện"bổ"sung"lần"2"ngày"24/7/2019;"Đơn"sửa"đổi"nội"dung" khởi"kiện"ngày"17/03/2020;"Đơn"khởi"kiện"bổ"sung"lần"2"ngày"12/5/2020;"Bản" Tự"khai"và"Biên"bản"không"T4"hành"đối"thoại"được,"người"khởi"kiện"ông"Nguyễn" Công"T"trình"bày:"
Ông và bà Nguyễn Thị Thái Mỹ L là vợ chồng. Tổng Khu đất có nguồn
gốc mua năm 2000, gia đình ông sử dụng gần 20 năm, trong quá trình sử dụng đã chấp hành nghiêm túc chủ trương của Nhà nước về an toàn hành lang giao thông và quyền sử dụng đất, không lấn chiếm, không tranh chấp với những thửa đất liền kề. Theo các giấy chứng nhận trên thì nhà - đất 39 và 39/1 có tổng diện tích 727,6m2, gồm 439m2 được công nhận và 288,6m2 không được công nhận vì nằm trong quy hoạch lộ giới. Thực tế phần diện tích không được công nhận đã được sử dụng làm nhà ở trước khi gia đình ông nhận chuyển nhượng cho đến nay, không pH là đất nông nghiệp.
Theo Quyết định 3376/QĐ-UBND, Ủy ban T1 xác định diện tích thu hồi
đất để thực hiện Dự án tuyến đường kết nối đường Phạm Văn Đồng là 399,3m2 là tH1. Năm 2005, Ủy ban phường L có chủ trương mở rộng nâng cấp Đường 22 và gia đình ông đã lùi vào tường rào với chiều ngang 1,2m cho cả bức tường, tổng diện tích là 60m2 . Việc lùi vào này Ủy ban phường L có lập biên bản ngày 23/03/2005. Trong biên bản ông có trình bày: “…Đây" là" phần" tháo" dỡ" cuối" cùng,"nếu"sau"này"có"sự"thay"đổi"cơ"quan"quản"lý"việc"mở"rộng"pH"đền"bù."Diện" tích"đền"bù"pH"được"tính"cho"cả"phần"lùi"vào"lần"này…”. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-13) và Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-14) thì chiều dài bức tường bị cắt vào là (6,42m + 26,5m) x 1,2m = 39,504m2. Như vậy, Tổng diện tích thu hồi đúng pH là 399,3m2 + 39,504m2 = 439,3m2.
Quyết định 3383/QĐ-UBND, Ủy ban T1 tính bồi hường, hỗ trợ cho gia
đình ông không thỏa đáng. Khu đất trên tại thời điểm bị thu hồi nằm ở vị trí lô gốc 2 mặt tiền đường 22 có diện tích chiều rộng 25m, với giá thị trường hiện nay
là 40.000.000 đồng/m2, Ủy ban Thành phố ban hành quyết định duyệt hệ số điều
chỉnh giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ không thỏa đáng, bất hợp lý và với đơn
giá 25.168.500 đồng/m2 không thể mua vị trí mặt tiền đường lộ giới 20m tại
phường L, quận T1.
Quyết định 4011/QĐ-UBND tính bồi thường 50% đơn giá nhà và vật kiến
trúc trên phần đất không được công nhận là không đúng vì nhà - vật kiến trúc đã
được sử dụng và tồn tại trước năm 2000, phần đất này pH được công nhận và
pH được bồi thường, hỗ trợ 100% đơn giá.
*" Tại" Văn" bản" số" 5160/UBND-GPMB" ngày" 22/11/2019" và" Văn" bản" số"
2352/UBND-GPMB""ngày"04/6/2020""người"bị"kiện"Ủy"ban"nhân"dân"quận"T1"
có"ý"kiến"như"sau:"
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Dự án tuyến đường kết
nối đường Phạm Văn Đồng được thực hiện theo Luật Đất đai 2013; Quyết định
số 23/2015/QĐ-UBND ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thành phố và các văn bản
hướng dẫn thi hành. Trong Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 15/5/2015,
không quy định việc tính bồi thường, hỗ trợ cho trường hợp xây dựng nhà, công
trình, vật kiến trúc trên đất nông nghiệp. Để giảm bớt thiệt hại cho người có đất
bị thu hồi, Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố đã đề xuất Ủy ban Thành
phố về chính sách hỗ trợ đối với nhà – vật kiến trúc xây dựng trên đất nông
nghiệp theo Văn bản số 600/HĐTĐBT ngày 05/10/2018. Ngày 21/02/2019 Ủy
ban Thành phố ban hành Văn bản số 586/UBND-ĐT về việc chấp thuận chủ
trương thực hiện chính sách hỗ trợ đối với nhà, công trình, vật kiến trúc xây
dựng trên đất nông nghiệp. Từ cơ sở này Hội đồng thẩm định bồi thường Thành
phố ban hành Văn bản số 97/HĐTĐBT ngày 06/03/2019 để hướng dẫn việc tính
hỗ trợ đối với nhà, công trình, vật kiến trúc xây dựng trên đất nông nghiệp. Phần
diện tích không được công nhận là đất ở của ông T xây dựng sau tháng 7/2003
và trước 01/7/2004 được tính 50% giá trị xây dựng.
Trình tự thủ tục thu hồi đất; tính bồi thường, hỗ trợ cho ông T – bà L, Ủy
bạn T1 đã thực hiện đúng quy định và thẩm quyền. Yêu cầu khởi kiện của ông T
không có cơ sở đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
*"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"bà"Nguyễn"Thái"Mỹ"L"trình"bày:"
Toàn bộ diện tích đất 727,6m2 đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà
nằm trong các giấy chứng nhận trên, không pH là đất nông nghiệp. Trên giấy ghi
phần diện tích không được công nhận là do nằm trong quy hoạch lộ giới. Mặc dù
không được công nhận, nhưng thực tế đất đã đưa vào trước năm 2000. Liên quan
đến áp giá đất ở; đất không được công nhận; vật kiến trúc xây dựng và phần diện tích 39,504m2, bà thống nhất với ông T. Bà yêu cầu Tòa án xem xét và bảo vệ quyền lợi cho gia đình bà.
Tại"phiên"tòa:""
- Người khởi kiện ông Nguyễn Công T; Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của ông T đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và có lời trình bày như sau:
Theo các giấy chứng nhận gia đình ông T được sử dụng 727,6m2, với tổng
diện tích này gia đình ông T sử dụng làm đất ở ổn định, liên tục lâu dài, không bị tranh chấp. Theo tài liệu Bản đổ 2004 do Ủy ban T1 cung cấp thì tổng diện tích đất theo các giấy chứng nhận thuộc thửa 240 là loại đất thổ vườn, vì vậy, phần diện tích không được công nhận pH được xác định đất ở, Ủy ban T1 xác định đất nông nghiệp là không đúng.
Phần diện tích 39,504m2, theo Biên bản ngày 23/03/2005, thì hộ ông T bị
thu hồi 1,2m x 60m diện tích đất để mở rộng đường 22, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc thu hồi đất pH có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trong Biên bản có nội dung “…nếu"sau"này"có"sự"thay"đổi"cơ"quan"quản" lý"việc"mở"rộng"pH"đền"bù."Diện"tích"đền"bù"pH"được"tính"cho"cả"phần"lùi"vào" lần"này…”."Như vậy, phần diện tích này có liên quan với Dự án tuyến đường kết nối đường Phạm Văn Đồng, cũng pH được xem xét bồi thường. Ủy ban T1 không đưa vào trong Biên bản kiểm điếm ngày ngày 18/5/2016 để cộng diện tích thu hồi cho hộ ông T là không đúng quy định.
Đơn giá Ủy ban T1 tính rất thấp so với giá thị trường tại thời điểm thu
hồi, hộ ông T đã tham kham thảo giá là 40.000.000 đồng/m2.
Đề nghị, hủy các quyết định bị kiện, buộc Ủy ban T1 tính diện tích thu hồi
là 399,3m2 + 39,504m2 = 439,3m2; tính đơn giá bồi thường cho tổng diện tích thu hồi là 40.000.000 đồng/m2 và bồi thường 100% nhà - vật kiến trúc.
- Người bị kiện Ủy ban T1 có ông Nguyễn Hữu Anh T3 đại diện vắng
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L cùng ý kiến với ông T.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:
Căn cứ Biên bản kiểm điếm ngày 18/5/2016 của Ban bồi thường; Giấy
xác nhận nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của hộ ông T số 25/GXN-UBND ngày 28/03/2018; Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-13) và Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-14) do Công ty TNHH thương mại dịch vụ
xây dựng đo đạc Phan Gia lập ngày 29/02/2016; Phương án 57/PA-HĐBT và
Luật Đất đai năm 2013 để ban hành các quyết định bị kiện trên.
Liên quan đến phần diện tích 39,504m2 , phần diện tích này được thu hồi
để thực hiện Dự án đầu tư công trình Nâng cấp và mở rộng đường liên khu phố
4, 7 phường L theo Quyết định số 309/QĐ-UB ngày 04/5/2004 của Ủy ban T1,
theo quyết định này thì Ủy ban phường vận động nhân dân ủng hộ di dời, không
bồi thường, hỗ trợ, Nhà nước và nhân dân cùng làm. Chủ trương này ông T có
biết nên mới ký tên vào Biên bản ngày 23/03/2005 và bàn giao mặt bằng. Dự án
đã thực hiện xong.
Toàn bộ yêu cầu của ông T không có cơ sở xem xét, đề nghị bác yêu cầu
khởi kiện của ông T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa phát biểu:
* Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố
tụng hành chính. Các đương sự tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định
* Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, yêu cầu của ông T không
có cơ sở. Đề nghị, bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T.
XÉT!THẤY!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ
thẩm nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, người bị kiện là Ủy ban T1 có ông Nguyễn Hữu Anh T3 -
Phó Chủ tịch Ủy ban T1 là người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Phạm Quang H1 vắng mặt nhưng có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 158 của Luật Tố tụng
hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt người bị kiện
và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Phạm
Quang H1.
[2] Về đối tượng, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quyết định 3376/QĐ-UBND ngày 11/6/2018; Quyết định 3383/QĐ-
UBND ngày 12/6/2018 và Quyết định 4011/QĐ-UBND ngày 22/7/2019 cùng
của Ủy ban T1 ban hành là để thu hồi đất, giải quyết bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất cho hộ ông T. Các ngày 28/5; 10/6 và 24/7/2019, 12/5/2020 ông T có đơn khởi kiện và khởi kiện bổ sung được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý. Căn cứ Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3; Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 31; Khoản 4 Điều 32 và điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, các quyết định nêu trên là quyết định hành chính bị kiện, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và còn thời hiệu khởi kiện.
![3] Về thẩm quyền ban hành các Quyết định:"
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương
năm 2015 và Khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 thì việc ban hành quyết định thu hồi đất, công bố giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Ủy ban nhân dân T1 là đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục.
[4]! Về phần diện tích 39,504m2, ông T căn cứ vào Biên bản ngày
23/03/2005 do Ủy ban phường L lập yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban T1 pH tính cộng vào tổng diện tích đất bị thu hồi trong Dự án đường Phạm Văn Đồng là 399,3m2 + 39,504m2 = 439,3m2. Căn cứ Quyết định số 4993/QĐ-UB ngày 03/12/2002 của Ủy ban Thành phố về phê duyệt lộ giới (Chỉ giới đường đỏ) đợt 2 các tuyến đường có lộ giới từ 12m trở lên trên địa bàn 5 phường: B, L, Tam Bình, Tam Phú, Bình Chiểu – T1; Quyết định số 309/QĐ-UB ngày 04/5/2004 của Ủy ban T1 về duyệt dự án đầu tư công trình nâng cấp và mở rộng đường liên khu phố 4, 7 phường L và Biên bản ngày 23/03/2005 thì phần diện tích 39,504m2 ông T đã bàn giao để thực hiện Dự án mở đường 22 vào thời điểm năm 2005. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của ông T và Luật sư của ông T về việc buộc Ủy ban T1 tính cộng phần diện tích 39,504m2 vào tổng diện tích đất thu hồi trong Dự án tuyến đường kết nối đường Phạm Văn Đồng. Quyết định 3376/QĐ-UBND ngày 11/6/2018 của Uỷ ban T1 thu hồi diện tích đất 339,3m2 của ông Nguyễn Công T và bà Nguyễn Thái Mỹ L là đúng quy định.
![5]! Căn cứ Biên bản kiểm điếm ngày 18/5/2016 của Ban bồi thường;
Giấy xác nhận số 25/GXN-UBND ngày 28/03/2018 của Ủy ban phường L; Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-13) và Bản đồ hiện trạng vị trí số 16/PG/2016 (LĐ-14) do Công ty TNHH thương mại dịch vụ xây dựng đo đạc Phan Gia lập ngày 29/02/2016 và Quyết định 3376/QĐ-UBND thì hộ ông T có đất bị thu hồi để thực hiện Dự án tuyến đường kết nối đường Phạm Văn Đồng là 399,3m2, trong đó: Nhà – đất tọa lạc 17/7 Ấp Bình Quới 2 (39/1 đường 22) của Giấy 1831/2000 là 343,70m2 và Nhà – đất tọa lạc 39 đường 22 của Giấy
22781/2002 là 55,60m2 . Khu đất thuộc thửa 240 tờ bản đồ 35 Bộ địa chính
phường L theo tài liệu bản đồ 2004.
[6]!Theo Quyết định 3383/QĐ-UBND kèm Phương án số 348/PA-HĐBT,
trong tổng diện tích bị thu hồi trên,! Ủy ban T1 xác định loại đất để tính bồi
thường, hỗ trợ như sau: Đất ở vị trí 1, mặt tiền đường 22 là 256,8m2 x
25.168.500 đồng = 6.463.270.800 đồng và đất nông nghiệp trồng cây lâu năm vị
trí 1, mặt tiền đường là 142,50m2 x 3.610.000 đồng = 514.425.000 đồng.!Theo
Giấy 22781/2002, phần diện tích nhà – đất được công nhận 38m2 và phần diện
tích không được công nhận 16,8m2; Giấy 1831/2000, phần diện tích nhà – đất
được công nhận 218m2 và phần diện tích không được công nhận 125,7m2. Theo
quy định Luật Đất đai năm 2013 việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đều pH
thực hiện theo quyết định thu hồi đất và các phương án đã được phê duyệt. Như
đã viện dẫn, Khu đất trên của ông T và bà L có một phần được Nhà nước công
nhận và một phần không được công nhận. Ủy ban T1 căn cứ vào Phương án
57/PA-HĐBT và các văn bản hướng dẫn có liên quan để giải quyết bồi thường,
hỗ trợ là đúng quy định.
![7] Yêu cầu của người khởi kiện và đề nghị của Luật sư không có căn cứ
pháp luật nên không được chấp nhận theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 193
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác
yêu cầu khởi kiện của ông T là có cơ sở.
[9] Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông T không
được chấp nhận nên pH chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của
Khoản 1 Điều 31 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3; Khoản 1 Điều 30; Khoản 1 Điều 31,
Khoản 4 Điều 32, a Khoản 2 Điều 116; điểm g Khoản 1 Điều 143; Khoản 1
Điều 158 và điểm a Khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Khoản 1 Điều 31 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên!xử:!
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T về việc yêu cầu hủy các
quyết định của Ủy ban nhân dân quận T1, cụ thể: Quyết định số 3376/QĐ-UBND ngày 11 tháng 6 năm 2018 về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng tuyến đường kết nối từ đường Phạm Văn Đồng đến Nút giao thông Gò Dưa – Quốc lộ 1 tại quận T1; Quyết định số 3383/QĐ-UBND ngày 12 tháng 6 năm 2018 về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Dự án xây dựng tuyến đường kết nối từ đường Phạm Văn Đồng đến Nút giao thông Gò Dưa – Quốc lộ 1 tại quận T1; Quyết định số 4011/QĐ-UBND ngày 22 tháng 7 năm 2019 về việc chi trả bồi thường, hỗ trợ bổ sung trong Dự án xây dựng tuyến đường kết nối từ đường Phạm Văn Đồng đến Nút giao thông Gò Dưa – Quốc lộ 1 tại quận T1.
2. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Nguyễn Công T pH chịu 300.000 (Ba
trăm ngàn) đồng án phí hành chính chính sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền ông T đã tạm nộp theo Biên lai thu số AA/2019/0024625 ngày 02 tháng 10 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Công T đã nộp đủ án phí.
3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.!!
!
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM; - Cục Thi hành án dân sự TPHCM; - Các đương sự; - Lưu VP, HS. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM ! THẨM!PHÁN – CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA Đỗ!Thị!Kim!Phượng! |