- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Luật thi hành án dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 980 /2020/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thúy Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Năm
Ông Đoàn Văn Rỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền – Thư ký Tòa án.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Phan Tuyết Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1181/2019/TLST-HNGĐ ngày 09/12/2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 28/8/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 165 /2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Nguyệt T, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: 78K B, phường Y, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1969.
Địa chỉ: 78K B, phường Y, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 05/11/2019, biên bản tự khai ngày 05/3/2020, các biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 30/6/2020, 24/8/2020, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ bà Trần Thị Nguyệt T trình bày:
Bà T và Ông Huỳnh Văn T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2000 tại Ủy ban nhân dân phường C, quận S, thành phố Hồ Chí Minh. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2014 nguyên nhân là ông T cờ bạc không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng cãi nhau thường xuyên, đôi khi ông T còn đánh bà T , mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Trần Ái M sinh ngày 29/3/2001 (đã trưởng thành) và Huỳnh Trần Gia B sinh ngày 26/12/2008. Bà T đồng ý giao con chung tên Huỳnh Trần Gia B cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng, xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T tự khai không có.
Về nợ chung: Bà T tự khai không thiếu nợ gì của ai.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên Toà không thu được lời khai và không hoà giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8- Bà Phan Tuyết Trinh phát biểu: Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng không thể hàn gắn, vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Trần Ái M sinh ngày 29/3/2001 (đã trưởng thành) và Huỳnh Trần Gia B sinh ngày 26/12/2008, giao con chung và Huỳnh Trần Gia B cho ông Huỳnh Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho bà Trần Thị Nguyệt T. Tài sản chung: không có, nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:
Bà Trần Thị Nguyệt T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với ông Huỳnh Văn T nên đây là tranh chấp hôn nhân gia đình, do bị đơn có nơi cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã triệu tập ông Huỳnh Văn T nhiều lần để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông Tùng đều vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174, 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông T đều vắng mặt tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Ngày 24/8/2020 bà Trần Thị Nguyệt T có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa bà và ông Huỳnh Văn T. Do Bà T đi làm nên không thể đến tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn.
Do đó Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt tất cả nhưng người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Xét thấy, bà Trần Thị Nguyệt T và ông Huỳnh Văn T chung sống với nhau năm 2000, có đăng ký kết hôn số 132 ngày 14/11/2000 tại Ủy ban nhân dân phường C, quận S, thành phố Hồ Chí Minh. Nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nay bà T yêu cầu được ly hôn là có căn cứ cần chấp nhận giải quyết vì phù hợp với khoản 1 Điều 51 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tại đơn khởi kiện và biên bản tự khai ngày 05/3/2020, Bà T yêu cầu được ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn gia đình phát sinh là do lỗi của ông T mê cờ bạc không chăm lo cho cuộc sống gia đình, lại còn đánh bà T. Mâu thuẫn gia đình phát sinh ngày càng trầm trọng, kéo dài không thể hàn gắn được, làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Cuộc sống gia đình không hạnh phúc.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa hòa giải nhưng ông T vẫn cố tình không đến Tòa để hòa giải, chứng tỏ ông T không còn tha thiết muốn duy trì mối quan hệ hôn nhân với bà T, vì vậy yêu cầu của bà T là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về con chung: Bà Trần Thị Nguyệt T và ông Huỳnh Văn T có 02 con chung tên Huỳnh Trần Ái M sinh ngày 29/3/2001 (đã trưởng thành) và Huỳnh Trần Gia B sinh ngày 26/12/2008. Hiện nay cháu Huỳnh Trần Gia B do ông T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo lợi ích, điều kiện sống, sinh hoạt ổn định và nguyện vọng của con chung, xét việc bà T đồng ý giao con chung Huỳnh Trần Gia B cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng, xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con không trái pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên có căn cứ cần chấp nhận.
Bà T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, hoặc những người theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Xét về tài sản chung: Bà T tự khai tài sản chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về nợ chung: Bà T tự khai xác nhận không thiếu nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí ngày và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bà T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng.
Ông Huỳnh Văn T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 171, 172, 173, 174, 177, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
- Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
1. Tuyên xử vắng mặt đối với bị đơn ông Huỳnh Văn T.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Nguyệt T ly hôn ông Huỳnh Văn T
Về con chung: Bà Trần Thị Nguyệt T và ông Huỳnh Văn T có 02 con chung tên Huỳnh Trần Ái M sinh ngày 29/3/2001 (đã trưởng thành) và Huỳnh Trần Gia B sinh ngày 26/12/2008. Giao trẻ Huỳnh Trần Gia B cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho bà T cho đến khi ông T có yêu cầu.
Bà T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, hoặc những người theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T tự khai tài sản chung không có nên tòa không xem xét.
Về nợ chung: Bà T tự khai xác định không thiếu nợ ai nên tòa không xem xét.
Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2. Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng bà Trần Thị Nguyệt T phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 ( ba trăm ngàn ) đồng theo biên lai thu số 0012458 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà T đã nộp đủ án phí
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q8; - Chi cục THA DS Q8; - UBND phường C, quận S, TP. Hồ Chí Minh. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | Trần Thị Thúy Minh |