vanban.org

Bản án 98/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 21/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Hồ Xuân T phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, quy…

Bị cáo Trần Linh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Xuân Trúc - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Hồ Xuân T phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, quy…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2026/HS-ST
Ngày: 21-08-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh T

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Vĩnh Hạnh

2. Ông Nguyễn Hoàng Vui

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Đào – Kiểm sát viên; Ông Phạm Trương Nhựt Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 99/2026/HS-ST ngày 31 tháng 07 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 08 năm 2026 đối với các bị cáo:

- Bị cáo Hồ Xuân T, sinh ngày 18/3/1995, tại Tây Ninh, CCCD: 079095007015; giới tính: Nam; nơi thường trú: Số 16/30 T, phường P, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: phòng trọ thứ nhất, nhà trọ cạnh số nhà 58, khu vực T, phường P, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: làm thuê; cha là ông Hồ Văn N (đã chết), mẹ là bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1964; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)

- Bị cáo Trần Linh D, sinh ngày 19/11/1996, tại Cần Thơ, CCCD: 092096003455; giới tính: Nam; nơi thường trú: ấp T, xã Trường Thành, thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện tại: phòng trọ thứ nhất, nhà trọ cạnh số nhà 58, khu vực T, phường P, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: bảo vệ; cha là ông Trần Văn X, sinh năm 1973, mẹ là bà Trần Thị T, sinh năm 1976; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Bị cáo Nguyễn Bảo T, sinh ngày 18/02/1994, tại Cần Thơ; giới tính: Nam; nơi cư trú: 14Ab1, đường X, phường A, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: công nhân; chức vụ trước khi phạm tội: không; cha là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966, mẹ là bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968; vợ là bà D Thị Như Q, sinh năm 1998, đã ly hôn; chưa có con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt theo lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 11/01/2026 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Cần Thơ. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thu Thảo, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: 14Ab1, đường X, phường A, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 25 phút ngày 11/12/2025, Công an phường Thới An Đông, thành phố Cần Thơ tuần tra tại tuyến đường bê tông nông thôn thuộc khu vực 1, phường Thới An Đông thì phát hiện Nguyễn Bảo T và Trương Chế Thanh đang sử dụng trái phép chất ma túy, Trần Văn Tiến có mặt nhưng không sử dụng. Công an tiến hành kiểm tra, thu giữ ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, xe mô tô và điện thoại của T, Thanh. Kết quả giám định xác định các mẫu ma túy thu giữ là Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định, khoảng 18 giờ cùng ngày, Thanh gặp T tại khu vực trên và rủ T sử dụng ma túy. T đồng ý và sử dụng điện thoại liên hệ với Hồ Xuân T hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy tại phòng trọ của T, T quay lại gặp Thanh, lấy dụng cụ sử dụng ma túy cất trong bụi cỏ, chuẩn bị ma túy rồi cùng Thanh sử dụng. T sử dụng trước, sau đó đưa cho Thanh sử dụng, khi Công an phát hiện, Tiến có mặt nhưng không sử dụng.

Khám xét nơi ở của Hồ Xuân T ngày 13/12/2025, Công an thu giữ một lượng lớn ma túy, tiền, điện thoại, xe mô tô và nhiều dụng cụ liên quan đến việc phân chia, đóng gói và sử dụng ma túy. Kết quả giám định xác định nhiều mẫu vật là Methamphetamine; trong đó có 9,7165 gam, 0,6470 gam và 0,6505 gam Methamphetamine, cùng 0,2003 gam Methamphetamine trong hai nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

Từ tháng 7/2025 đến giữa tháng 9/2025, T đi giao ma túy cho vợ chồng Oanh, Đạt để nhận tiền công. Đến giữa tháng 9/2025, T tự mua ma túy của người tên Phát, chia nhỏ bán lại để kiếm lời và sử dụng. T đã mua của Phát 03 lần, mỗi lần từ 2.000.000 đồng đến 5.500.000 đồng, sau khi bán hết thu lợi từ 4.500.000 đồng đến 6.000.000 đồng. T sống cùng Trần Linh D tại nhà trọ; D biết việc mua bán ma túy và đã giúp T giao, nhận tiền ma túy 05 lần.

T đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó bán cho Nguyễn Bảo T 10 lần, Trần Văn Tiến 01 lần và một số người khác. Ngoài việc mua bán ma túy, T còn nhiều lần chuẩn bị ma túy và dụng cụ để cùng Trần Linh D sử dụng tại phòng trọ. T mua tổng cộng 11 nỏ thủy tinh và 04 bình sử dụng ma túy; Cơ quan điều tra thu giữ tổng cộng 15 dụng cụ sử dụng ma túy.

Đối với Nguyễn Bảo T, từ tháng 9/2025 đến ngày 11/12/2025, T cùng Trương Chế T và Trần Văn T đã sử dụng trái phép chất ma túy tổng cộng 07 lần. Trong nhiều lần, T là người chuẩn bị ma túy và dụng cụ; riêng ngày 11/12/2025, T mua ma túy của T rồi chuẩn bị để cùng Thanh sử dụng thì bị phát hiện.

Đối với Trương Chế Thanh, Cơ quan điều tra đã tách hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy để xử lý trong vụ án khác. Đối với Trần Văn T, do chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSCTO-KV ngày 30 tháng 07 năm 2026, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ đã truy tố:

Bị cáo Hồ Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251, truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 và truy tố về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo Trần Linh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo Nguyễn Bảo T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Linh D, Nguyễn Bảo T đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ đã truy tố. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày: Giữ nguyên quan điểm Cáo trạng truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 8 năm đến 9 năm tù; xử phạt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” từ 7 năm đến 8 năm tù; xử phạt về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hồ Xuân T phải chấp hành hình phạt chung là 16 năm đến 18 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo T từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Buộc bị cáo nộp lại thu lợi bất chính 6.000.000 đồng.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Linh D từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T 8 năm đến 9 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như nhau:

- Trả lại cho bà Nguyễn Thu Thảo 01 xe mô tô biển kiểm soát 65B2-228.90, nhãn hiệu Vario, màu đen, số máy KF11E2508013, số khung: MH1KF1127JK514585.

- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu NUBIA màu cam, số imel1: 861054073644242 , gắn sim số 0376609839 cho bị cáo Trần Linh D.

- Trả lại cho Hồ Xuân T 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J4+ màu đen, số imel: 352692101640348, gắn sim số 0376609839 và sim số 0765979546; 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu đen, số imel: 864596079423465 gắn sim số 0939528576.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 3.500.000 đồng tiền Việt Nam; 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Pro màu hồng bạc, số imel1: 356202093527051; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 65C1-029.69, nhãn hiệu Yamaha, màu trắng – đen, số máy 5WP3-11470, số khung RLCM5WP305Y011470.

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 hộp quẹt gas màu xanh; 01 bình thủy tinh hình trụ, 01 bình thủy tinh hình hồ lô, 01 bình thủy tinh màu vàng nhạt kiểu hình hồ lô, 01 bình thủy tinh trong suốt hình trụ; 04 hộp kim loại REAL MAN chứa các gói nylon viền đỏ, viền xanh và màu vàng; 09 ống thủy tinh màu trắng (nỏ); 06 ống hút nhựa màu trắng; 02 hộp quẹt gas; 02 cây kéo; 01 cân tiểu ly hiệu Marllono; 50 túi nylon; 01 cây kẹp duỗi dùng để hàn bọc chứa ma túy; 01 sim điện thoại số 0859144443; 01 sim điện thoại số 0939873446.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon màu trắng, nẹp miệng viền đỏ chứa tinh thể màu trắng; 07 gói nylon màu xanh và 07 gói nylon màu đỏ (dạng gói kẹo, nền chữ Merry Christmas) bên trong chứa tinh thể màu trắng, 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 21 gói nilon nẹp miệng viền xanh, 10 gói nilon nẹp miệng viền đỏ, 02 ống nhựa màu trắng; 01 ống thủy tinh dính vết màu nâu (theo các gói niêm phong số 2424/KL-KTHS ngày 20/12/2025, 2425/KL-KTHS ngày 21/12/2025, 2426/KL-KTHS ngày 20/12/2025, 2407/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ).

(Các vật chứng trên đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an thành phố Cần Thơ).

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Hồ Xuân T, trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đang điều trị bệnh và có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt. Xét thấy lý do vắng mặt của bị cáo là do đang điều trị bệnh, có căn cứ để xem xét; đồng thời bị cáo đã được lấy lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, nội dung lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử xét thấy việc xét xử vắng mặt bị cáo Hồ Xuân T trong trường hợp này không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và quyền bào chữa của bị cáo, nên căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Hồ Xuân T.

Về tội danh đối với bị cáo Hồ Xuân T

Hồ Xuân T đã nhiều lần mua ma túy của người tên Phát để chia nhỏ bán lại cho người khác nhằm thu lợi và sử dụng. T đã bán ma túy cho Nguyễn Bảo T nhiều lần, bán cho Trần Văn Tiến và nhiều người khác; đồng thời khi có người mua, T trực tiếp giao ma túy hoặc nhờ Trần Linh D đi giao, nhận tiền.

Ngoài ra, T còn chuẩn bị ma túy và dụng cụ để cùng Trần Linh D sử dụng trái phép chất ma túy. Khi khám xét nơi ở của T, Cơ quan điều tra thu giữ nhiều gói ma túy, nhiều dụng cụ sử dụng ma túy và các phương tiện dùng để phân chia, đóng gói ma túy. Kết luận giám định xác định các mẫu vật thu giữ là ma túy loại Methamphetamine; trong đó có các mẫu có khối lượng cụ thể và các mẫu là chất ma túy nhưng không xác định được khối lượng. Hồ sơ cũng xác định tổng cộng thu giữ 15 dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình và nỏ. Hành vi của Hồ Xuân T thể hiện rõ mục đích mua ma túy để bán lại kiếm lời, thực hiện nhiều lần. Do đó, có đủ căn cứ kết luận Hồ Xuân T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đồng thời do bị cáo mua bán ma túy để kiếm lời nên cần phạt bổ sung bị cáo nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng.

Đối với hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, T đã nhiều lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Trần Linh D. Hành vi được thực hiện nhiều lần nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, T còn tàng trữ nhiều dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả điều tra xác định T mua tổng cộng 11 nỏ thủy tinh và 04 bình dùng để sử dụng ma túy; đã sử dụng 02 nỏ và 02 bình, còn lại 09 nỏ và 02 bình chưa sử dụng. Tổng cộng Cơ quan điều tra thu giữ 15 dụng cụ sử dụng ma túy. Hành vi này thuộc trường hợp tàng trữ từ 06 đến 19 đơn vị dụng cụ, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, hành vi của Hồ Xuân T đủ yếu tố cấu thành các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 và “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh đối với bị cáo Trần Linh D

Quá trình điều tra xác định Trần Linh D sống cùng nhà trọ với Hồ Xuân T và biết T mua bán ma túy. Khi T bận việc, D đã giúp T giao ma túy và nhận tiền đưa lại cho T. D đã thực hiện việc giao ma túy cho Nguyễn Bảo T 02 lần và giao cho một số người khác theo sự chỉ đạo của T, tổng cộng 05 lần.

Mặc dù D không phải là người trực tiếp mua ma túy về để bán nhưng đã nhận thức được việc giao ma túy của mình là nhằm giúp T thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời vẫn thực hiện nhiều lần. Hành vi của D là hành vi giúp sức cho T trong việc mua bán trái phép chất ma túy.

Do đó, có đủ căn cứ kết luận Trần Linh D là đồng phạm với Hồ Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh đối với bị cáo Nguyễn Bảo T

Từ tháng 9/2025 đến ngày 11/12/2025, Nguyễn Bảo T đã nhiều lần chuẩn bị ma túy và dụng cụ để cùng Trương Chế Thanh, Trần Văn Tiến sử dụng trái phép chất ma túy, tổng cộng 07 lần. Trong đó, nhiều lần T là người chuẩn bị ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy; ngày 11/12/2025, T trực tiếp liên hệ với Hồ Xuân T mua ma túy, sau đó mang ma túy và dụng cụ đến để cùng Thanh sử dụng.

Hành vi của Nguyễn Bảo T không chỉ dừng lại ở việc sử dụng ma túy mà T còn chủ động chuẩn bị, cung cấp ma túy và dụng cụ, rủ rê, tạo điều kiện để nhiều người khác cùng sử dụng ma túy. T đã thực hiện hành vi nhiều lần và đối với từ hai người trở lên.

Do đó, có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Bảo T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về vai trò của từng bị cáo

Đối với Hồ Xuân T, bị cáo là người giữ vai trò chính trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy. T trực tiếp tìm nguồn mua ma túy, mua ma túy về chia nhỏ để bán kiếm lời, trực tiếp bán cho nhiều người, nhận tiền và quyết định việc giao ma túy. T đồng thời là người chuẩn bị ma túy và dụng cụ để tổ chức cho Trần Linh D sử dụng trái phép chất ma túy, cũng là người tàng trữ nhiều dụng cụ sử dụng ma túy tại nơi ở. Và thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với Trần Linh D, bị cáo giữ vai trò giúp sức trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T. D không phải là người mua ma túy, nhưng đã trực tiếp nhận và giao ma túy cho người mua theo yêu cầu của T nhiều lần, tạo điều kiện để việc mua bán ma túy được thực hiện.

Đối với Nguyễn Bảo T, bị cáo giữ vai trò trực tiếp trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. T nhiều lần chuẩn bị ma túy, chuẩn bị dụng cụ và tổ chức cho Trương Chế Thanh, Trần Văn Tiến cùng sử dụng. Hành vi của T được thực hiện nhiều lần và đối với nhiều người.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ma túy Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện, tác động nghiêm trọng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác.

Hồ Xuân T đã thực hiện hành vi mua bán ma túy nhiều lần, với nhiều người; đồng thời tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ nhiều dụng cụ phục vụ việc sử dụng ma túy. Vì vậy, T giữ vai trò chính và phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại.

Trần Linh D tham gia với vai trò giúp sức, thực hiện việc giao ma túy nhiều lần. Mức độ tham gia của D thấp hơn T nhưng hành vi có tính chất tích cực, góp phần thực hiện việc mua bán ma túy.

Nguyễn Bảo T là người nhiều lần chuẩn bị ma túy, dụng cụ và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo có tính chất nguy hiểm, được thực hiện nhiều lần và đối với nhiều người.

Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của từng bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân

Các bị cáo Hồ Xuân T, Trần Linh D và Nguyễn Bảo T đều chưa có tiền án, tiền sự.

Quá trình điều tra, các bị cáo Hồ Xuân T, Trần Linh D và Nguyễn Bảo T đều thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải

Đối với Hồ Xuân T, mặc dù bị cáo vắng mặt tại phiên tòa do đang điều trị bệnh và được Tòa án chấp nhận cho xét xử vắng mặt, nhưng trong quá trình điều tra bị cáo đã khai báo đầy đủ, thừa nhận hành vi phạm tội và thể hiện sự ăn năn, hối cải. Việc bị cáo vắng mặt vì lý do đang điều trị bệnh không làm mất đi việc đánh giá T độ khai báo của bị cáo trong quá trình điều tra. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng cho Hồ Xuân T tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Trần Linh D và Nguyễn Bảo T, tại phiên tòa các bị cáo tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Đối với Hồ Xuân T, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất trong số các bị cáo do bị cáo giữ vai trò chính trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời còn phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Trần Linh D, bị cáo giữ vai trò giúp sức trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T, cần xem xét mức hình phạt tương xứng với vai trò thứ yếu hơn so với T.

Đối với Nguyễn Bảo T, bị cáo là người nhiều lần tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, cần áp dụng hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo.

Về xử lý vật chứng

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65B2-228.90, nhãn hiệu Vario màu đen: qua xác minh chủ sở hữu là bà Nguyễn Thu Thảo. T chỉ mượn xe của bà Thảo để đi làm; bà Thảo không biết việc T sử dụng xe để đi mua ma túy. Vì vậy, cần trả lại xe mô tô biển kiểm soát 65B2-228.90 cho bà Nguyễn Thu Thảo.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65C1-029.69, nhãn hiệu Yamaha màu trắng - đen: đây là phương tiện Hồ Xuân T sử dụng và giao cho Trần Linh D sử dụng để đi giao ma túy. T mua lại xe nhưng không làm thủ tục sang tên và đã sử dụng xe làm phương tiện phục vụ việc giao ma túy. Do đó, đây là phương tiện được sử dụng trực tiếp vào việc phạm tội, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 3.500.000 đồng thu giữ trong túi quần bên phải của Hồ Xuân T: quá trình điều tra xác định T thực hiện việc mua bán ma túy để kiếm lời; T nhiều lần mua ma túy, bán lại cho nhiều người và thu tiền. Bị cáo không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của số tiền này. Xét tính chất, hoàn cảnh thu giữ và mối liên hệ với hoạt động mua bán ma túy của T, có căn cứ xác định số tiền là tiền do phạm tội mà có hoặc có liên quan trực tiếp đến việc phạm tội. Vì vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với các điện thoại di động thu giữ gồm: 01 điện thoại Galaxy J7 Pro màu hồng bạc; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu đen của Nguyễn Bảo T, xét thấy các điện thoại này được các bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi, thực hiện việc mua bán, giao nhận ma túy nên là công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với điện thoại di động hiệu NUBIA màu cam, gắn sim số 0376609839 thu của Trần Linh D; 01 điện thoại Galaxy J4+ màu đen, gắn sim số 0376609839 và sim số 0765979546 cùng 01 điện thoại REDMI màu đen, gắn sim số 0939528576 thu của Hồ Xuân T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại.

- Đối với các vật chứng là 02 hộp quẹt gas màu xanh; 01 gói nylon màu trắng, nẹp miệng viền đỏ chứa tinh thể màu trắng; 07 gói nylon màu xanh và 07 gói nylon màu đỏ (dạng gói kẹo, nền chữ Merry Christmas) bên trong chứa tinh thể màu trắng; 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 21 gói nilon nẹp miệng viền xanh, 10 gói nilon nẹp miệng viền đỏ, 02 ống nhựa màu trắng; 01 ống thủy tinh dính vết màu nâu; 01 bình thủy tinh hình trụ, 01 bình thủy tinh hình hồ lô, 01 bình thủy tinh màu vàng nhạt kiểu hình hồ lô, 01 bình thủy tinh trong suốt hình trụ; 04 hộp kim loại REAL MAN chứa các gói nylon viền đỏ, viền xanh và màu vàng; 09 ống thủy tinh màu trắng (nỏ); 06 ống hút nhựa màu trắng; 02 hộp quẹt gas; 02 cây kéo; 01 cân tiểu ly hiệu Marllono; 50 túi nylon; 01 cây kẹp duỗi dùng để hàn bọc chứa ma túy; 01 sim điện thoại số 0859144443; 01 sim điện thoại số 0939873446 (các vật chứng đã được niêm phong theo các gói niêm phong số 2424/KL-KTHS ngày 20/12/2025, 2425/KL-KTHS ngày 21/12/2025, 2426/KL-KTHS ngày 20/12/2025, 2407/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ) thì đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng và không được phép lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 17 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Xuân T;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Linh D;

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bảo T;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố:

- Bị cáo Hồ Xuân T phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Trần Linh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

3. Xử phạt:

- Xử phạt bị cáo Hồ Xuân T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hồ Xuân T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hồ Xuân T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của các tội, buộc bị cáo Hồ Xuân T phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2025. Phạt bổ sung bị cáo T nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng. Buộc bị cáo T nộp lại thu lợi bất chính là 6.000.000 đồng.

- Xử phạt bị cáo Trần Linh D 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2025.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2026.

4. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bà Nguyễn Thu Thảo 01 xe mô tô biển kiểm soát 65B2-228.90, nhãn hiệu Vario, màu đen, số máy KF11E2508013, số khung: MH1KF1127JK514585.

- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu NUBIA màu cam, số imel1: 861054073644242 , gắn sim số 0376609839 cho bị cáo Trần Linh D.

- Trả lại cho Hồ Xuân T 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J4+ màu đen, số imel: 352692101640348, gắn sim số 0376609839 và sim số 0765979546; 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu đen, số imel: 864596079423465 gắn sim số 0939528576.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 3.500.000 đồng tiền Việt Nam; 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Pro màu hồng bạc, số imel1: 356202093527051; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 65C1-029.69, nhãn hiệu Yamaha, màu trắng – đen, số máy 5WP3-11470, số khung RLCM5WP305Y011470.

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 hộp quẹt gas màu xanh; 01 bình thủy tinh hình trụ, 01 bình thủy tinh hình hồ lô, 01 bình thủy tinh màu vàng nhạt kiểu hình hồ lô, 01 bình thủy tinh trong suốt hình trụ; 04 hộp kim loại REAL MAN chứa các gói nylon viền đỏ, viền xanh và màu vàng; 09 ống thủy tinh màu trắng (nỏ); 06 ống hút nhựa màu trắng; 02 hộp quẹt gas; 02 cây kéo; 01 cân tiểu ly hiệu Marllono; 50 túi nylon; 01 cây kẹp duỗi dùng để hàn bọc chứa ma túy; 01 sim điện thoại số 0859144443; 01 sim điện thoại số 0939873446.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon màu trắng, nẹp miệng viền đỏ chứa tinh thể màu trắng; 07 gói nylon màu xanh và 07 gói nylon màu đỏ (dạng gói kẹo, nền chữ Merry Christmas) bên trong chứa tinh thể màu trắng, 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 21 gói nilon nẹp miệng viền xanh, 10 gói nilon nẹp miệng viền đỏ, 02 ống nhựa màu trắng; 01 ống thủy tinh dính vết màu nâu (theo các gói niêm phong số 2424/KL-KTHS ngày 20/12/2025, 2425/KL-KTHS ngày 21/12/2025, 2426/KL-KTHS ngày 20/12/2025, 2407/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ).

(Các vật chứng trên đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an thành phố Cần Thơ).

5. Về án phí: Các bị cáo Hồ Xuân T, Trần Linh D, Nguyễn Bảo T, mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Trần Linh D, Nguyễn Bảo T có quyền kháng cáo. Bị cáo Hồ Xuân T, bà Nguyễn Thu Thảo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ