vanban.org

Bản án 98/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 05/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L (06) sáu tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội Đánh bạc theo Bản án số 38/2023/HS - ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ). Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2026/HS-ST
Ngày 05 – 8 – 2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Như Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Trường Hận.

Ông Kim Trung Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2026/HSST-QĐ ngày 30 tháng 6 năm 2026 và Thông báo về việc dời ngày xét xử vụ án hình sự số: 08/TB – TA ngày 27 tháng 7 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị L, sinh ngày 01/01/1992, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (chết) và bà Nguyễn Thị M; chồng: Lê Văn T, sinh năm 1989; bị cáo có 02 người con; tiền án: 01 tiền án. Ngày 20/7/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang cũ xử phạt 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội Đánh bạc, chưa được xóa án tích; tiền sự: không. Nhân thân: Không tốt. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/10/2025 đến ngày 13/01/2026 cho tại ngoại đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 13/7/1993, tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: chăn nuôi; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lâm Thị T2; chồng: Nguyễn Quốc C, sinh năm 1983; bị cáo có 02 người con; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 04/01/2024 bị Công an phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang cũ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong vào ngày 30/3/2026. Nhân thân: không tốt. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

3. Bùi Thị Út C1, sinh ngày 20/5/1960, tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C2 (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết); chồng: Nguyễn Trung N1 (chết); bị cáo có 02 người con; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 25/3/2025, bị Công an xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 05/9/2025 đã đóng phạt xong. Nhân thân: không tốt. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

4. Lê Văn S, sinh ngày 01/01/1966, tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T3 (chết) và bà Lâm Cẩm V (chết); vợ: Võ Thanh T4, sinh năm 1966; bị cáo có 02 người con; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 25/3/2025, bị Công an xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 29/5/2025 đã đóng phạt xong. Nhân thân: không tốt. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hứa Thị H1, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Ấp G, xã V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

2. Hứa Thị B, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

3. Lê Thị C3, sinh năm 1954. Nơi cư trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ (có mặt).

4. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang (vắng mặt).

5. Trương Văn T5, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Ấp A, xã V, tỉnh An Giang (vắng mặt).

6. Lê Minh Đ, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

7. Trần Thị T6, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

8. Lê Văn Tốt E, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 20/8/2025, Hứa Thị H1 (sinh ngày: 01/01/1974. ĐKTT: ấp G, xã V, thành phố Cần Thơ), Huỳnh Thị B1 (sinh ngày: 01/01/1950. ĐKTT: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ), Lê Thị C3 (sinh ngày: 10/10/1954. ĐKTT: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ), Nguyễn Thị L1 (sinh ngày: 19/01/1960. ĐKTT: ấp V, xã V, tỉnh An Giang), Trương Văn T5 (sinh ngày: 10/5/1959. ĐKTT: ấp A, xã V, tỉnh An Giang), Lê Minh Đ (sinh ngày: 01/01/1971. ĐKTT: khu vực A, phường V, thành phố Cần Thơ) và các bị cáo Nguyễn Thị L (sinh ngày: 01/01/1992. ĐKTT: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ), Nguyễn Thị Ngọc H (sinh ngày: 13/7/1993. ĐKTT: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ), Bùi Thị Út C1 (sinh ngày: 20/05/1960. ĐKTT: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ), Lê Văn S (sinh ngày: 01/01/1966. ĐKTT: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ) lần lượt đến phạm vi nhà bếp của bà Trần Thị T6 (sinh ngày: 01/01/1969. ĐKTT: số 30, ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ) tại địa chỉ: số C, ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ để tham gia chơi đánh bài sát phạt được, thua bằng tiền với nhau. Bà Trần Thị T6 chuẩn bị bài, chiếu, quạt gió, ca mủ cho các con bạc tham gia chơi đánh bạc để bà T6 thu tiền xâu. Các con bạc sử dụng loại bài tây 52 lá để chơi bài binh ấn độ 06 lá ăn thua bằng tiền Việt Nam tại sòng bài thì có 01 tụ cái và khoảng 7- 8 tụ đặt, mỗi tụ đặt từ 50.000 đồng trở xuống, Đ và T5 thủ cái. Khi tham gia các con bạc đặt tiền trên chiếu và nhà cái chia 06 lá bài. Khi nào nhà cái thắng hoặc đổi bài thì gửi xâu từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng bỏ vào ca mủ nhựa để kế bên sòng bài. Sòng bài hoạt động đến khoảng 11 giờ 30 thì Công an xã H, thành phố Cần Thơ phát hiện và lập biên bản ngày 20/08/2025.

Quá trình điều tra các đối tượng tham gia đánh bạc đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể::

Nguyễn Thị L khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 20/8/2025, tham gia đánh bạc cùng với bà Út C1, bà H1, bà H, ông S, ông Đ. Khi đi L mang theo 1.700.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp thì có hơn 08 người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái khoảng 07 tụ con, mỗi ván đặt tụ 50.000 đồng trở lại. Tham gia khoảng 9 hoặc 10 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản, Lam thắng được 300.000 đồng, thu giữ trên người 2.100.000 đồng, trong đó 400.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và thu lợi từ việc đánh bạc.

Nguyễn Thị Ngọc H khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, tham gia đánh bạc cùng với bà L, bà Út C1, ông Đ. Khi đi H mang theo 3.800.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ và nhiều tụ con, H đặt tụ, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng. Tham gia 5 đến 6 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản, H đang thua 100.000 đồng, thu giữ trên người 3.700.000 đồng, trong đó 100.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Bùi Thị Út C1 khai nhận: C1 đến nhà bà T6 không nhớ thời gian tham gia đánh bạc cùng ông Đ, bà C3, bà B1, bà H1 và những người khác nữa không rỏ. Khi đi C1 mang theo 200.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ khoảng 04 tụ con, C1 và bà B1 hùn đặt tụ từ 50.000 đồng trở xuống. Không nhớ tham gia mấy ván thì Công an phát hiện lập biên bản, C1 không thắng, không thua, thu giữ trên chiếu 200.000 đồng là tiền bà C1 sử dụng vào việc đánh bạc.

Lê Văn S khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 20/8/2025, tham gia đánh bạc cùng ông Đ, bà L1, bà L, bà H, bà Út C1 và bà B1. Khi đi S mang theo 700.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ khoảng 05 tụ con, S đặt tụ từ 30.000 đồng trở xuống. Tham gia khoảng 10 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản, S không thắng, không thua, thu giữ trên người 700.000 đồng, trong đó 300.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Hứa Thị H1 khai nhận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 20/8/2025, tham gia đánh bạc cùng với bà Út C1, ông S, ông Đ và những người khác nữa không rỏ họ tên. Khi đi H1 mang theo 4.260.000 đồng, sử dụng 60.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ khoảng 06 tụ con, H1 ké tụ cùng bà Út C1 mỗi ván ké tụ 20.000đ trở lại. Tham gia 4 đến 5 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản, H1 thua 60.000 đồng, thu giữ trên người 4.200.000 đồng sử dụng 60.000 đồng vào việc đánh bạc, còn 4.140.000 không sử dụng vào việc đánh bạc.

Huỳnh Thị B1 khai nhận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 20/08/2025, tham gia đánh bạc cùng với bà Út C1, bà L, bà H1, bà H, bà C3, ông S, ông Đ. Khi đi B1 mang theo 1.600.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ khoảng 06 tụ con, Bé và Út C1 cùng đặt 01 tụ mỗi ván đặt tiền khoảng 30.000 đồng đến 50.000 đồng. Tham gia khoảng 3 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản. Bé không thắng, không thua, thu giữ trên người 1.600.000 đồng, trong đó 100.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Lê Thị C3 khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 20/08/2025, tham gia đánh bạc cùng với bà Út C1, bà L, ông S, ông Đ. Khi đi C3 mang theo 200.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ và nhiều tụ con, C3 đặt tụ khoảng 03 ván, mỗi ván 50.000 đồng đến khi Công an vào lập biên bản. Chuồng thắng 50.000 đồng bị thất lạc, thu giữ trên người 200.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Nguyễn Thị L1 khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 20/08/2025, tham gia đánh bạc cùng với bà H1, bà C3, ông T5, ông Đ. Khi đi L1 mang theo 3.100.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc gồm 01 tụ cái là ông Đ và nhiều tụ con, L1 không đặt tụ theo nhà cái 02 ván từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng đến khi Công an phát hiện lập biên bản. Lý thua 50.000 đồng, lạc mất 50.000 đồng, thu giữ trên người 3.000.000 đồng, trong đó 100.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Trương Văn T5 khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 20/08/2025, tham gia đánh bạc cùng ông Đ, bà L1. Khi đi T5 mang theo 2.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp nhiều người đang tham gia đánh bạc hùn thủ cái với Đ, có 01 tụ con là bà L1 cùng nhiều tụ nữa không rỏ nhân thân lai lịch, Đ chia bài, coi bài. T5 ngồi giám sát các tụ đề phòng gian lận. Tham gia khoảng 6 đến 7 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản, Đ và T5 đang thua, thu giữ trên người T5 1.800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Lê Minh Đ khai nhận: Đường đến nhà bà T6 buổi sáng tham gia đánh bạc cùng ông S, ông T5, bà C3, bà Út C1, bà L, bà H và bà L1. Khi đi Đ mang theo 80.000 đồng, sử dụng 80.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi vào phía sau bếp tham gia đánh bạc Đường hùn thủ cái với T5. Mỗi ván các tụ đặt tiền trên chiếu lát từ 50.000 đồng trở lại. Đường trực tiếp chia bài, coi bài còn T5 ngồi giám sát các tụ con đề phòng gian lận. Tụ con gồm bà C3, Út C1, L, H, L1 và ông S. Tham gia khoảng 6 đến 7 ván đến khi Công an phát hiện lập biên bản, Đ và T5 đang thua, thu giữ trên người 80.000 đồng, trong đó 80.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Trần Thị T6 khai nhận: T6 cung cấp địa điểm là nhà riêng cùng bài, chiếu lát, quạt gió, ca mủ để cho các đối tượng tham gia đánh bạc cụ thể: Bà 5 Chuồng, bà 2 Dữ “Bé”, bà Út C1, ông S và nhiều người nữa biết mặt không rỏ họ tên. Khi tham gia đánh bạc chơi bài ấn độ 6 lá. Tiền xâu bỏ vào ca mũ đến khi kết thúc buổi đánh bạc thì thu số tiền đó, số tiền không cố định tùy theo diễn biến. Khi Công an phát hiện lập biên bản các con bạc chưa gửi tiền xâu. T6 thu số tiền xâu độ khoảng giao động từ 100.000 đồng trở lại đối với các ngày trước đó. Việc thu tiền xâu T6 không có đưa ra quy định, ai tham gia rồi tự bỏ tiền vào ca mũ. Tự các con bạc rủ lại nhà T6, sòng bạc hoạt động cũng khá lâu T6 không nhớ thời gian cụ thể.

Lê Văn Tốt E khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 20/8/2025, có mặt tại sòng bạc nhà bà T6, thấy ông Đ, ông T5, bà L, bà H, bà Năm C4, bà Út C1 và bà hai Dữ (Bé) tham gia đánh bạc. Mỗi ván những người trên đặt tụ từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng, Tốt E đứng phía sau xem, xem khoảng 04 đến 05 ván thì Công an phát hiện lập biên bản.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị L, Huỳnh Thị B1, Lê Thị C3, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị Ngọc H, Trương Văn T5, Lê Văn S, Bùi Thị Út C1, Lê Minh Đ, Hứa Thị H1 tham gia đánh bạc là 3.340.000 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá đang sử dụng đánh bạc, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc chiếu lát, đã qua sử dụng.

- 01 (một) ca mũ nhựa, đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

* Tạm giữ xung quanh sòng bài:

- 03 (ba) bộ bài tây 52 lá đang sử dụng đánh bạc, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc chiếu lát, đã qua sử dụng.

- 03 (ba) ca mũ nhựa, đã qua sử dụng.

- 01 (một) quạt gió, đã qua sử dụng.

Thu giữ trên người các đối tượng tham gia đánh bạc số tiền 17.380.000đ và 09 điện thoại di động đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác minh đã xác định như sau:

Nguyễn Thị L có 01 tiền án về tội đánh bạc, tại bản án số 38/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh - tỉnh Hậu Giang (cũ). Tuyên phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án “chưa xóa án tích”.

Nguyễn Thị Ngọc H có 01 tiền sự ngày 05/12/2023 tham gia đánh bạc, ngày 04/01/2024 Công an phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 03/ QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng. Huyền, chưa thi hành quyết định.

Bùi Thị Út C1 có 01 tiền sự ngày 12/3/2025 tham gia đánh bạc, ngày 25/3/2025 Công an xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 13/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 05/9/2025 thi hành xong quyết định.

Lê Văn S có 01 tiền sự ngày 12/3/2025 tham gia đánh bạc, ngày 25/3/2025 Công an xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 09/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 29/5/2025 thi hành xong quyết định.

Đối với hành vi của Trần Thị T6 dùng nhà, chỗ ở để tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc nhằm mục đích cùng tham gia và thu lợi bất chính. Trinh chưa có tiền án, tiền sự nhưng số tiền sử dụng để đánh bạc chưa đủ để cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc và G bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 322, 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 281 ngày 19/12/2025 đối với Trần Thị T6, số tiền là 7.500.000 đồng theo quy định.

Đối với Lê Minh Đ, Nguyễn Thị L1, Trương Văn T5, Huỳnh Thị B1, Lê Thị C5, Hứa Thị H1 tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân các đối tượng chưa có tiền án tiền sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Minh Đ, Nguyễn Thị L1, Trương Văn T5, Huỳnh Thị B1, Lê Thị C5, Hứa Thị H1, số tiền 1.500.000 đồng theo quy định.

* Xử lý vật chứng trong vụ án:

Cơ quan điều tra đã ký gửi kho bạc để bảo quản, quản lý và chờ quyết định xử lý của Cơ quan có thẩm quyền 01 (một) gói niêm phong trong đó số tiền Việt Nam 3.340.000 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng). Do thu giữ tại chiếu bạc và tiền chứng minh các con bạc sử dụng vào việc đánh bạc.

Trả lại tiền Việt Nam và điện thoại di động các đối tượng không sử dụng vào việc đánh bạc gồm:

- Hứa Thị H1 tiền Việt Nam 4.140.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3X đã qua sử dụng.

- Huỳnh Thị B1 tiền Việt Nam 1.500.000đ và 01 điện thoại nokia bàn phím đã qua sử dụng.

- Nguyễn Thị Ngọc H tiền Việt Nam 3.600.000đ, 02 điện thoại di động Samsung A54, Iphone đã qua sử dụng.

- Nguyễn Thị L tiền Việt Nam 1.700.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo đã qua sử dụng.

- Nguyễn Thị L1 tiền Việt Nam 2.900.000 đồng.

- Bùi Thị Út C1 01 điện thoại di động hiệu Redmi đã qua sử dụng.

- Lê Thị C3 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 đã qua sử dụng.

- Lê Văn S tiền Việt Nam 400.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Sam sung đã qua sử dụng.

- Trương Văn T5 01 điện thoại di động hiệu S1 đã qua sử dụng.

Vật chứng còn lại được nhập kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 11- Cần Thơ để bảo quản và xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS-KV11 ngày 01/02/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ đã truy tố đối với các bị cáo như sau:

Truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đề nghị:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 03 năm tù bị cáo chưa chấp hành theo Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang cũ. Hình phạt chung buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chấp hành là từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 21/10/2025 đến ngày 13/01/2026 khi chấp hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H số tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Út C1 số tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Lê Văn S số tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về tang vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Phát biểu tự bào chữa tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C3 tại phiên tòa phát biểu không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xét xử vụ án lần đầu, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H có đơn yêu cầu xem xét hành vi của cán bộ Công an trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo tại Công an phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang trước đây là không đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Tuy nhiên, đến ngày 06/5/2026 bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đã tự nguyện rút lại đơn yêu cầu và xác định hành vi của cán bộ Công an trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo tại Công an phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang trước đây là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với các bị cáo còn lại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm bà Hứa Thị H1, bà Hứa Thị B, bà Nguyễn Thị L1, ông Trương Văn T5, ông Lê Minh Đ, bà Trần Thị T6, ông Lê Văn Tốt E: Xét sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên trong vụ án.

. Xét hành vi các bị cáo bị truy tố: Tại phiên toà các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Theo đó thể hiện: Vào ngày 20/8/2025, tại số nhà C, ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ, các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài binh ấn độ 06 lá, với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 3.340.000 đồng. Tuy số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng Nguyễn Thị L có 01 tiền án về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích và các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự nhưng nay lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Căn cứ vào các chứng cứ này, đối chiếu quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Toà có đủ cơ sở kết luận: Hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài binh ấn độ 06 lá thắng thua bằng tiền mà các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S thực hiện như nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

. Về khung hình phạt: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp không có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

. Xét tính nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả gây ra:

. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, trị an tại địa phương, là nguyên nhân dễ làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác tại địa phương.

. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên bản thân nhận thức được việc rủ rê, thỏa thuận tham gia sát phạt nhau thông qua hình thức đánh bài để ăn thua bằng tiền, thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật và có thể phạm tội, nhưng vì bản chất xem thường pháp luật và động cơ hám lợi, để thoả mãn nhu cầu cá nhân các bị cáo vẫn thực hiện, hành vi này của các bị cáo thể hiện tính cố ý.

. Xét về nhân thân của các bị cáo: Vụ án có tất cả 04 bị cáo, cùng phạm tội đánh bạc. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Thị L có tiền án chưa được xóa án tích. Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S có tiền sự chưa được xóa tiền sự. Vai trò trong vụ án là người trực tiếp đánh bạc, nhưng tính chất sát phạt ăn thua của các bị cáo số tiền không quá lớn, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong vụ án phạm tội trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S đều mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

. Về quyết định hình phạt đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xét nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác đụng giáo dục, răn đe và cải tạo đối với bị cáo. Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tiền, cũng đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục và răn đe đối với các bị cáo.

. Về tang vật chứng:

- Các vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với số tiền Việt Nam đã thu giữ của các bị cáo là số tiền được đưa vào đánh bạc, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Không liên quan đến việc đánh bạc thì trả lại cho chủ sở hữu.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về phát biểu luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: xét đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, các vấn đề khác là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L (06) sáu tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội Đánh bạc theo Bản án số 38/2023/HS - ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ). Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 21/10/2025 đến ngày 13/01/2026 khi chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Út C1 số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Lê Văn S số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về tang vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá đang sử dụng đánh bạc, đã qua sử dụng;

- 02 (hai) chiếc chiếu lát, đã qua sử dụng.

- 04 (bốn) ca mũ nhựa, đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) quạt gió, đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 3.340.000 đồng đang được gửi giữ tại Kho bạc Nhà nước khu vực XIX, theo Biên bản giao nhận tài sản số 2512/BB-KBXIX ngày 23/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc Nhà nước khu vực XIX.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị Út C1, Lê Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ