- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn thị N - trần hoàng L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2026/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2026 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Quốc Vinh.
- Ông Đinh Văn Sự.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Ngày 10 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 270/2025/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 126/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 21/3/1987.
Địa chỉ: ấp H, xã G, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Trần Hoàng L, sinh ngày 28/03/1982.
Địa chỉ: ấp T, xã N, Thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 03/09/2025, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh N trình bày: Bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L có tổ chức tiệc cưới năm 2005 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nay là Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Cần Thơ vào ngày 10/09/2007, số giấy chứng nhận kết hôn: 51 quyển số 01. Trong quá trình sống chung với nhau bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L có 01 người con chung tên: Trần Hoàng Ánh P, sinh ngày 03/06/2007 hiện nay đã trưởng thành. Đến khoảng năm 2020 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không còn hợp nhau và không có tiếng nói chung từ đó đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay.
Nhận thấy trong thời gian chung sống với nhau giữa bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L phát sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và sống ly thân. Bà Nguyễn Thị Ánh N xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Hoàng L.
Về con chung: Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L có 01 người con chung tên: Trần Hoàng Ánh P, sinh ngày 03/06/2007 đã thành niên, lao động được, bà Nguyễn Thị Ánh N không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Hoàng L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Trần Hoàng L theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Trần Hoàng L không liên lạc với Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Toà án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không đến Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, bà Nguyễn Thị Ánh N yêu cầu ly hôn với ông Trần Hoàng L. Quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Trần Hoàng L đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nay là Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/09/2007 theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N có kết hôn với bị đơn Trần Hoàng L là sự thật, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vì vậy, giữa bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì bất đồng quan điểm thường xuyên cải vả làm cho tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L không còn tiếp tục sống chung với nhau từ năm 2020.
Nguyên đơn kiên quyết yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện không còn sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L không còn tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N và bị đơn Trần Hoàng L thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N đối với bị đơn Trần Hoàng L là có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho bà Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với ông Trần Hoàng L.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L có 01 người con chung tên: Trần Hoàng Ánh P, sinh ngày 03/06/2007 đã thành niên, lao động được nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh N.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với ông Trần Hoàng L.
2/ Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L có 01 người con chung tên: Trần Hoàng Ánh P, sinh ngày 03/06/2007 đã thành niên, lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Trần Hoàng L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010213 ngày 19/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cần Thơ), bà Nguyễn Thị Ánh N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận - VKS khu vực 8 - Cần Thơ; - Các đương sự; - TAND tp Cần Thơ; - Phòng THA.DS khu vực 8 - Cần Thơ; - UBND xã Gia Hoà; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toàn |