vanban.org

Bản án 98/2025/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 24/06/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án 98-2025-HSPT-24-6-2025, Ph - Vi phạm giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HSPT
Ngày 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;

Ông Trần Thanh Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 72/2025/TLPT-HS ngày 12-5-2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn P, do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2025/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị P1 (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị B; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/10/2024 đến nay tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Bị hại: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1958; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (đã chết);

Người đại diện theo pháp luật của bị hại Phạm Thị D:

1. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1977 (con ruột của bị hại); nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;

2. Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1979 (con ruột của bị hại); nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;

3. Ông Huỳnh Văn A, sinh năm 1982 (con ruột của bị hại); nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;

4. Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1983 (con ruột của bị hại); nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn H1, ông Huỳnh Văn A và bà Huỳnh Thị T: ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 24/3/2025); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn P không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 28-8-2024, bị cáo P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S biển số 70H1-194.15 lưu thông trên Quốc lộ B hướng từ thị trấn T đi Cửa khẩu X. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, P điều khiển xe vượt lên bên trái xe mô tô biển số 70K1-087.85 do bà Phạm Thị D điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Do không đảm bảo khoảng cách an toàn, nên khi xe mô tô do bị cáo P điều khiển vượt lên thì va chạm vào bên trái xe mô tô do bà D điều khiển gây tai nạn. Hậu quả vụ tai nạn làm cho bị cáo P và bà D bị thương được đưa đi cấp cứu. Đến 23 giờ 50 phút cùng ngày, bà D tử vong tại Bệnh viện Đ.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn xảy ra trên Quốc lộ B, đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đoạn đường chạy dọc theo hướng Bắc - N, mặt đường trải nhựa phẳng, rộng 9,25 m, có vạch sơn màu vàng ngắt quãng ở giữa đường để phân tuyến. Đoạn đường xảy ra tai nạn nằm trong khu vực biển báo giao thông hết khu vực đông dân cư, có hệ thống đèn chiếu sáng và không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn. Hiện trường vụ tai nạn nằm trên phần đường bên phải hướng đi của xe Nguyễn Văn P điều khiển.

Tại kết luận giám định Pháp y tử thi số: 81/KLGĐTT-TTPYTN ngày 17-10-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân Phạm Thị D tử vong là do: Nứt xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, dập não/Chấn thương sọ não.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 29-8-2024 của Bệnh viện Đ đối với Nguyễn Văn P: có nồng độ cồn trong máu là 343mg/dl máu.

Tại Kết luận giám định số: 1726 ngày 05-9-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu máu của bà Phạm Thị D không có nồng độ cồn trong máu.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave S, màu đỏ - đen, biển số 70H-194.15, số khung: RLHJC5267DY228644, số máy JC525E1346877, đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn P đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Thị Danh số tiền 60.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại cho Nguyễn Văn P.

Bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2025/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 22-4-2025, bị cáo Nguyễn Văn P có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin được giảm nhẹ mức án và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn P có đơn kháng cáo. Qua xem xét đơn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P thể hiện:

Bị cáo Nguyễn Văn P không có giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 28-8-2024, bị cáo P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 70H1-194.15 lưu thông trên Quốc lộ B đến đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo P vượt không đảm bảo khoảng cách an toàn, gây tai nạn với xe mô tô biển số 70K1-087.85 do bà Phạm Thị D điều khiển; dẫn đến bà D tử vong do nứt xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, dập não, chấn thương sọ não.

Quá trình điều tra xác định, khi gây tai nạn bị cáo P có sử dụng rượu, nồng độ cồn trong máu là 343mg/dl máu, nên bị cáo vi phạm quy định tại khoản 8, 9 Điều 8, Điều 14 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Do đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, với tình tiết định khung hình phạt “Không có giấy phép lái xe theo quy định”, “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định…” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn công cộng, an toàn giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng dẫn đến chết người nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P, xin giảm nhẹ mức án và xin được hưởng án treo; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm có áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường xong cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo trình bày: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; vợ bị cáo mắc bệnh không còn khả năng lao động, là đối tượng bảo trợ xã hội; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử nhận thấy tính chất hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo phạm hai tình tiết định khung hình phạt “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định…”; đồng thời tình hình tai nạn giao thông diễn ra ngày càng nhiều; cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo; nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ mức án và xin được hưởng án treo của bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P;

2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 31/2025/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ