- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRần Thanh TRung Tiến - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TR TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2025/HS-ST Ngày 23-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TR, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Tuất.
Ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh Trung T (tên gọi khác: Út Ty), sinh năm 1986, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M, sinh năm: 1958 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1958; Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: Ngày 14/9/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 31/8/2023 chấp hành xong.
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 09/01/2008, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người”, được đặc xá ngày 30/8/2010.
- Ngày 14/7/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/8/2011.
Bị cáo bị bắt quả tang và giam giữ từ ngày 14/11/2024 (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 14/11/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện Tr phối hợp Công an xã Bắc Sơn tuần tra đến đoạn đường giao nhau giữa đường 767 và đường An Chu 5, ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr thì phát hiện bà Bùi Thị Mai, sinh năm: 1964, chỗ ở: ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai, đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH-Mode biển số 60B9 - 795.07 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Kiểm tra trong cốp xe mô tô biển số 60B9 - 795.07 của bà Mai phát hiện dưới đáy cốp xe có 01 bịch Zip kích thước 08cm x 05cm, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín kích thước 2,3cm x 1.3cm bên trong chứa chất màu trắng và 01 gói nylon màu hồng hàn kín kích thước 1,7cm x 01cm chứa chất màu trắng (nghi là ma túy đá). Công an xã Bắc Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bà Mai, tạm giữ vật chứng có liên quan và đưa đối tượng về trụ sở làm việc.
Tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà do bà Bùi Thị Mai thuê phát hiện đối tượng Trần Thanh Trung T (Tiến chung sống với Mai như vợ chồng). Kiểm tra tại phòng khách, phát hiện dưới gầm ghế gỗ kích thước 34cm x 34cm x 33cm có 01 ngăn tự chế, bên trong ngăn tự chế có 01 (một) bịch nylon màu đen, bên trong bịch nylon có 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng. Tiến khai nhận chất màu trắng trong gói nylon thu giữ trên là ma túy đá của Tiến mua cất giấu để sử dụng cho bản thân. Công an xã Bắc Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tiến, tạm giữ tang vật có liên quan và đưa đối tượng về trụ sở làm việc.
Qua xét nghiệm nhanh việc sử dụng ma túy đối với bà Bùi Thị Mai, kết quả bà Mai âm tính với chất ma túy tổng hợp; đối với Trần Thanh Trung T kết quả Tiến dương tính với chất ma túy tổng hợp.
Kết quả điều tra xác định: Trần Thanh Trung T là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2016, loại ma túy đá. Từ tháng 5/2024, bà Bùi Thị Mai thuê căn nhà ở ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai và chung sống như vợ chồng với Tiến đến ngày bị bắt.
Trần Thanh Trung T khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 14/11/2024, Tiến đang ở nhà thuê thì đối tượng tên Ngọc có tên tài khoản Zalo là “Thungoc” nhắn tin đến Zalo “Tien Utty” của Tiến nhờ mua giúp 01 gói ma túy đá (góc 8) để cùng sử dụng, Tiến đồng ý. Do còn một ít ma túy cất giấu dưới gầm ghế gỗ ở phòng khách (Tiến gắn thêm miếng mút dưới gầm ghế để nhét ma túy vào cất giấu) nên Tiến lấy bịch Zip kích thước 08cm x 05cm bên trong có 01 gói ma túy kích thước 2,3cm x 1.3cm và 01 gói ma túy kích thước 1,7cm x 01cm dưới gầm ghế gỗ ra, rồi nhét bịch Zip chứa ma túy vào trong cốp xe mô tô nhãn hiệu SH mode biển số 60B9-795.07 của Mai đang dựng trong nhà, mục đích điều khiển xe mô tô đem ma túy đến chỗ Ngọc để cùng sử dụng (nhưng Tiến chưa liên lạc lại để hỏi vị trí nhà của Ngọc). Tuy nhiên, sau khi nhét ma túy vào cốp xe, Tiến thấy lượng ma túy còn ít không đủ sử dụng, Tiến sử dụng điện thoại OPPO có gắn số sim 0909.716.766 của mình điện thoại cho “Đoàn Trung” đặt mua góc 8 ma túy đá với giá 500.000 đồng, Trung đồng ý hẹn Tiến đến đầu đường 767, gần Vật liệu xây dựng “Thu Tú” thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn để giao nhận ma túy. Khoảng 04 giờ cùng ngày, Trung gọi lại cho Tiến, Tiến đi ra thấy Trung đang ngồi trên xe mô tô hiệu Dream (không rõ biển số), lúc này Tiến đưa cho Trung 500.000 đồng, Trung đưa lại cho Tiến 01 bịch nilon màu đen bên trong có 01 gói ma túy đá. Tiến mang ma túy vào nhà (lúc này bà Mai đang nằm ngủ trong phòng) rồi nhét bịch nylon chứa ma túy vào miếng mút dưới gầm ghế gỗ ở phòng khách, rồi Tiến nằm trên võng ở phòng khách ngủ chờ đến sáng sẽ mang ma túy đến nhà Ngọc để cùng sử dụng.
Khoảng 06 giờ 50 ngày 14/11/2024, bà Mai thức dậy rồi điều khiển xe mô tô biển số 60B9 - 795.07 đi ăn sáng, còn Tiến vẫn nằm ngủ trên võng, khi đến đường An Chu 5, thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 60B9 - 795.07 của bà Mai có 01 bịch Zip chứa 02 gói ma túy mà Tiến đã nhét vào trước đó. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, lực lượng Công an đưa bà Mai về nhà để kiểm tra thì thấy Tiến đang nằm ngủ trên võng, kiểm tra tại phòng khách phát hiện bên dưới ghế gỗ có 01 bịch nylon màu đen chứa 01 gói ma túy đá (kích thước 4cm x 2,5cm) mà Tiến cất giấu trước đó. Tiến khai nhận 02 gói ma túy thu giữ trong cốp xe mô tô biển số 60B9-795.07 là của Tiến nhét vào để mang đi sử dụng, việc Tiến nhét ma túy vào cốp xe mô tô và giấu ma túy dưới gầm ghế gỗ trong căn nhà thuê thì Mai không biết.
Ngày 22/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định số: 4290/QĐ-MT trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai giám định chất ma tuý. Tại Kết luận giám định số: 2353/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2660 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,0806 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 22/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tr đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Thanh Trung T để điều tra. Quá trình điều tra Tiến đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số: 88/CT-VKS-TB ngày 07/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Thanh Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Trần Thanh Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh Trung T với mức án từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì niêm phong ma túy sau giám định số: 2353/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai và tiêu hủy 01 (một) bịch ni lông màu đen Tiến sử dụng làm dụng cụ cất giấu ma túy.
- Tịch thu sung công đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, gắn sim số 0909.716.766 của Trần Thanh Trung T sử dụng để liên lạc mua ma túy.
- Đối với xe mô tô Honda SH Mode màu đỏ đen, biển số 60B9-795.07; kết quả tra cứu xe do chị Huỳnh Lệ Kim Tuyến, sinh năm 1997, HKTT: ấp 3, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai mua vào năm 2022 và đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Từ tháng 11/2024, chị Tuyến cho bà Bùi Thị Mai (là mẹ ruột của chị Tuyến) mượn làm phương tiện đi lại quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 60B9-795.07 là tài sản hợp pháp của chị Tuyến; việc Tiến tự ý nhét ma túy vào xe mô tô thì chị Tuyến và bà Mai đều không biết, do đó Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô trên cho chị Tuyến.
- Đối với 01 (một) cái túi đeo chéo màu đen; 01 (một) chiếc ví bằng vải màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Honor, gắn sim số 0327676357; số tiền 2.790.000 đồng (hai triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 ghế gỗ (ghế mà Tiến dùng cất giấu ma túy) của bà Bùi Thị Mai; quá trình điều tra xác đinh đây là tài sản hợp pháp của bà Mai, không liên quan đến việc phạm tội và việc Tiến giấu ma túy dưới ghế gỗ thì bà Mai hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà Mai.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh Trung T không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tr, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/11/2024, tại căn nhà không số, thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Thanh Trung T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,3466 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Trần Thanh Trung T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr đã truy tố là có căn cứ.
Về trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống và gây mất trật tự trị an cho xã hội nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích đây là tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã 02 lần bị Tòa án kết án.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì niêm phong số: 2353/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và tịch thu tiêu hủy 01 (một) bịch ni lông màu đen Tiến sử dụng làm dụng cụ cất giấu ma túy.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, kèm theo sim số seri: 8401 1610 5299 4995 OT của Trần Thanh Trung T sử dụng để liên lạc mua ma túy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tr, tỉnh Đồng Nai).
Đối với xe mô tô Honda SH Mode màu đỏ đen, biển số 60B9-795.07; kết quả tra cứu xe do chị Huỳnh Lệ Kim Tuyến, sinh năm 1997, HKTT: ấp 3, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai mua vào năm 2022 và đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Từ tháng 11/2024, chị Tuyến cho bà Bùi Thị Mai (là mẹ ruột của chị Tuyến) mượn làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 60B9-795.07 là tài sản hợp pháp của chi Tuyến, việc Tiến tự ý nhét ma túy vào xe mô tô thì chị Tuyến và bà Mai đều không biết, do đó Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô trên cho chị Tuyến theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) cái túi đeo chéo màu đen; 01 (một) chiếc ví bằng vải màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Honor, gắn sim số 0327676357; số tiền 2.790.000 đồng (hai triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 ghế gỗ (ghế mà Tiến dùng cất giấu ma túy) của Bùi Thị Mai; quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Mai, không liên quan đến việc phạm tội và việc Tiến giấu ma túy dưới ghế gỗ thì bà Mai hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà Mai theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với đối tượng tên “Đoàn Trung” là đối tượng bán ma túy cho Tiến và đối tượng có Zalo tên “Thungoc” là đối tượng rủ Tiến sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an địa phương, trích xuất dữ liệu điện thoại, tài khoản Zalo nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo Trần Thanh Trung T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2024.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì niêm phong số: 2353/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và tịch thu tiêu hủy 01 (một) bịch ni lông màu đen Tiến sử dụng làm dụng cụ cất giấu ma túy.
2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, kèm theo sim số seri: 8401 1610 5299 4995 OT.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tr, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thanh Trung T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Trần Thanh Trung T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tr; - Phòng PV06 Công an tỉnh Đồng Nai; - THADS huyện Tr; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |