- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cảm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2025/HS-PT Ngày: 13-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hưng Bính.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Trọng Cẩn và bà Trần Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 13/8/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 64/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, Thành phố H (cũ). Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2025/QĐXXPT-HS ngày 23 tháng 7 năm 2025.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn C, sinh ngày 14/01/1993 tại thành phố H; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã H, thị xã H, thành phố H (nay là Tổ dân phố L, phường K, thành phố H); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Nguyễn Văn D và bà Hà Thị Kim L; có vợ là Hoàng Thị H, con có 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Về nhân thân:
- Ngày 02/5/2024, bị Công an thị xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.900.000 đồng về hành vi “điều khiển xe mô tô BKS 75D1-484.97 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0.25mg/1 khí thở” tại QĐ số 001720, bị cáo đã nộp phạt;
- Ngày 13/8/2024, bị Công an thị xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.900.000 đồng về hành vi “điều khiển xe mô tô BKS 64H6-3352 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0.25mg/1 khí thở” (QĐ số 003232), bị cáo chưa nộp phạt;
Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này, Người đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 07/10/2024, Nguyễn Văn C có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562 chở theo cậu của mình là anh Hà Văn B ngồi phía sau xe đi từ xã H vào quận P, thành phố H để buôn cau. Buổi trưa cùng ngày, C và anh B ăn trưa và uống bia tại một quán cơm ở quận P, thành phố H. Sau khi ăn cơm trưa xong, C trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562 chở anh B về nhà tại xã H trên tuyến đường Q, theo hướng quận P đi thị xã H. Lúc 14 giờ 05 phút cùng ngày, khi C điều khiển xe mô tô đi đến Km 816+600 thuộc địa bàn phường H, thị xã H, thành phố H với tốc độ 50 km/h, lúc này trời có mưa, do C không làm chủ được tốc độ, thiếu chú quan sát khi đi vào phần đường dành cho xe thô sơ nên dẫn đến xe mô tô va vào cọc tiêu bên phải đường gây tai nạn giao thông.
Hậu quả: Nguyễn Văn C bị thương tích điều trị đến ngày 08/10/2024 thì xuất viện; anh Hà Văn B bị thương tích vùng đầu và đa chấn thương nặng toàn thân do vụ tai nạn giao thông trên gây ra, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T (Cơ sở 1), đến 11 giờ 30 ngày 24/11/2024 thì tử vong. Xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562 bị hư hỏng.
Các dấu vết cơ bản liên quan đến tai nạn được xác định cụ thể như sau:
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km 816+600 QL1A thuộc phường H, thị xã H, thành phố H. Đường được rải thảm nhựa, tầm nhìn không bị che khuất, đường rộng 18m00 được chia làm 02 phần đường xe chạy trái, phải ngược chiều nhau được ngăn cách bởi dải phân cách cứng bằng bê tông. Phần đường bên phải hướng thành phố H - Đ rộng 9m00 được chia làm 02 làn đường, làn xe thứ nhất rộng 05m50, làn xe thứ hai rộng 3m50 được ngăn cách bởi vạch kẻ đứt quãng màu trắng.
Hiện trường được đánh số từ (1) đến (3): (1) Cột tiêu bị xô nghiêng; (2) Xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562; (3) Vùng dịch màu nâu đỏ.
Lấy biển ký hiệu H5/8 16 làm mốc; chọn mép đường phải hướng Thành phố H - Đ làm chuẩn:
- Vị trí số (1): Cột tiêu bị nghiêng về hướng Đ và bức khỏi vị tríban đầu, cách mép đường phải 0m15, cách biển ký hiệu H6/816 là 13m.
- Vị trí số (2): Xe mô tô 75F9-0562 ngã nghiêng sang trái trên đường; đầu xe hướng mép đường phải, đuôi xe hướng mép trái. Trục trước cách mép đường phải 2m20, cách vị trí số (1) là 6m80. Trục sau cách mép đường phải 3m20.
- Vị trí số (3): Vùng dịch kích thước 0m20x0m20 nằm trên đường; tâm vùng này cách mép phải 0m20 và cách trục trước xe mô tô 75F9-0562 là 3m00.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562:
- Phuộc trước bên phải: Phần dưới mặt trước bị va đập, trầy xước và khuyết kim loại, kích thước (3x2) cm. Phần trên bị gãy, rơi khỏi vị trí ban đầu, kích thước (18x2) cm; toàn bộ dè chống bùn trước bị gãy rơi khỏi vị trí ban đầu; toàn bộ cụm đèn trước bị gãy vỡ, rơi khỏi vị trí ban đầu; lốc máy bên phải bị vỡ, tạo vùng có kích thước (19x15) cm; cần đạp phanh phải bị va đập làm cong vênh, xô dồn từ trước ra sau với ban đầu 90 độ; yên ngồi bị rơi khỏi vị trí ban đầu.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện đã đầy đủ cơ sở để kết luận: Xe mô tô 75F9-0562 chạy hướng thành phố H. Khi đi đến địa điểm Km816+600 QL1A đã va chạm vào cọc tiêu ở mép đường phải tự gây tai nạn. Không có va chạm vào các phương tiện tham gia giao thông khác.
Trên cơ sở các dấu vết đã thu thập được tại hiện trường, phương tiện xác định, nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông trên do lỗi hoàn toàn của Nguyễn Văn C: Điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe trong điều kiện trời mưa, sửdụng chất kích thích (rượu, bia) khi tham gia giao thông, vi phạm khoản 1, khoản 11 Điều 5, Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia ngày 14/9/2019 (sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ).
* Ngày 24/11/2024, Công an thị xã H đã trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa - Pháp Y giám định nguyên nhân chết đối với anh Hà Văn B.
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 311/24/KLGĐTT ngày 05/12/2024 của Trung tâm G kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm, bệnh án điều trị: Đa chấn thương nặng toàn thân: vỡ hở xương hộp sọ + tụ máu lan tỏa nội sọ, gãy xương hàm mặt, gãy cột sống cổ C7... không đáp ứng điều trị phẫu thuật và hồi sức sau mổ. Sự hiện diện của kết quả Ethanol máu: 44.6mg/D1 cũng góp phần gây phù não và dẫn đến tổn thương não không phục hồi sau tai nạn.
2. Kết luận: Nguyên nhân chết: Đa chấn thương nặng toàn thân do tai nạn giao thông. Loại trừ mọi nguyên nhân khác.
* Kết quả đo nồng độ cồn và chất kích thích: Kết quả trích sao hồ sơ Bệnh án của Nguyễn Văn C tại Bệnh viện T, kết quả nồng độ cồn trong máu là 42,1mmol/L, tương đương 193,9968mg/100ml máu.
- Kết quả trích sao bệnh án của Hà Văn B tại Bệnh viện T1, kết quả nồng độ cồn trong máu là 44,6mmol/L, tương đương 205,5168mg/100ml máu.
* Ngày 28/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra yêu cầu định giá tài sản số 1334 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản thị xã H xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562.
Tại bản Kết luận định giá số 46/KL-HĐĐGTS, xác định: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, màu xanh, biển kiểm soát 75F9-0562, đã qua sử dụng, thời điểm bị tai nạn có giá trị là 419.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562, nhãn hiệu ORIENTAL màu xanh; 01 Giấy đăng ký xe mô tô do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 31/01/2002, chủ xe Nguyễn Thuận vẫn đang tiếp tục tạm giữ, lưu hồ sơ phục vụ xét xử.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn C đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại đã nhận đầy đủ số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, Thành phố H đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
Ngày 23/4/2025 (theo dấu công văn đến), bị cáo Nguyễn Văn C có Đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo của mình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa có quan điểm về tính hợp pháp của kháng cáo và Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ gì mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử bác đơn kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có cơ sở kết luận: Vào lúc 14 giờ 05 phút ngày 07/10/2024, Nguyễn Văn C trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F9-0562 chở theo anh Hà Văn B ngồi phía sau di chuyển theo hướng quận P, thành phố H ra Quảng Trị với tốc độ khoảng 50 km/h. Khi đi đến km 816+600 QL1A thuộc phường H, thị xã H, thành phố H, Nguyễn Văn C đã điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, đi vào phần đường dành cho xe thô sơ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe trong điều kiện trời mưa, sử dụng chất kích thích là rượu, bia khi tham gia giao thông nên đã để xe va vào cọc tiêu bên phải đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Hà Văn B tử vong, bị cáo bị thương nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào Điều 4, Điều 5, Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia ngày 14/9/2019 (sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ), với hậu quả làm chết 01 người. Với hành vi này Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có Giấy phép lái xe hạng A1, nhận thức được hành vi không chấp hành các quy định khi tham gia giao thông là trái với Luật giao thông đường bộ, hậu quả hành vi mà bị cáo gây ra là vô cùng nghiêm trọng, dẫn đến 1 người bị chết và gây thiệt hại về tài sản.
Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 5, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và xem xét đặc điểm nhân thân của bị cáo: hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, bị hại là cậu ruột. Tuy nhiên, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi dùng rượu bia khi tham gia giao thông: Ngày 02/5/2024, bị Công an thị xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.900.000 đồng về hành vi “điều khiển xe mô tô BKS 75D1-484.97 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn tại QĐ số 001720, bị cáo đã nộp phạt; Ngày 13/8/2024, bị Công an thị xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.900.000 đồng về hành vi “điều khiển xe mô tô BKS 64H6-3352 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn tại QĐ số 003232, bị cáo chưa nộp phạt; bị cáo vẫn không chịu rút kinh nghiệm.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cấp sơ xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là phù hợp, đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu gì mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Về biện pháp chấp hành hình phạt bị cáo không đủ điều kiên để được hưởng treo. Do đó, Hội đồng xét xử xét không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo C cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” . Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hưng Bính |