- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Ly hôn"
- Tòa quyết gì? án nhân dân Tối cao ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC G CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 7 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC G - THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Mai Lan.
2. Bà Trương Thị Hồng Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực
G - Thành phố H.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực G - Thành phố H tham gia phiên
toà: Bà Trương Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực G - Thành
phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1173/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 242/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Căn hộ I, Lô A,
Chung cư B, đường N, phường H (địa chỉ cũ: Phường C, quận G), Thành phố H. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Bình S, sinh năm 1974. Địa chỉ: Căn hộ I, Lô A,
Chung cư B, đường N, phường H (địa chỉ cũ: Phường C, quận G), Thành phố H. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Lê Thị Bích T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Bình S tự nguyện quen biết và yêu thương nhau đến
năm 1997 thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường P, quận T (nay là Ủy ban nhân dân phường T), Thành phố H1 cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/1997 ngày 24 tháng 12 năm 1997. Bà và ông S chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà và ông S đã nhiều lần hàn gắn nhưng không đạt kết quả, không giải quyết được mâu thuẫn. Bà và ông S đã sống ly thân từ năm 2002 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn
Bình S.
Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thảo N, sinh ngày
29/12/1997 và Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 09/10/2003. Hai con đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ
án này.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho
ông Nguyễn Bình S và giấy triệu tập ông S đến Tòa án để ghi nhận ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông S vắng mặt. Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông S nhưng ông S không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và cũng không có ý kiến về các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực G - Thành phố H
tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán
thực hiện đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ
án cho thấy, bà T và ông S đã phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết, hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Bích T. Cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Bình S; Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 29/12/1997 và Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 09/10/2003. Hai con đều đã trưởng thành; Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên không xem xét.
Về án phí sơ thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Toà án nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Lê Thị Bích T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông
Nguyễn Bình S, đây là quan hệ: “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ: Căn hộ I, Lô A, Chung cư B, đường N, phường H (địa chỉ cũ: Phường C, quận G), Thành phố H. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực G - Thành phố H.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Bình S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Nguyễn Bình S.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
số 97, quyển số 01/1997 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T (nay là Ủy ban nhân dân phường T), Thành phố H1 cấp ngày 24 tháng 12 năm 1997, xác định hôn nhân giữa bà Lê Thị Bích T và ông Nguyễn Bình S là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bích T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ
chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà T trình bày giữa bà và ông Nguyễn Bình S không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn gay gắt nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà T và ông S đã nhiều lần hàn gắn để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía ông S, Tòa án đã triệu tập ông S tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà T và ông S hàn gắn đoàn tụ nhưng ông S vẫn không có mặt thể hiện ông S không có thiện chí giải quyết những mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thảo N, sinh ngày
29/12/1997 và Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 09/10/2003, hiện nay đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết khi
ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. [4] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội Đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân Tối cao ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Bình
S.
Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/1997 giữa bà Lê Thị Bích T
và ông Nguyễn Bình S do Ủy ban nhân dân phường P, quận T (nay là Ủy ban nhân dân phường T), Thành phố H1 cấp ngày 24 tháng 12 năm 1997 hết hiệu lực.
Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thảo N, sinh ngày
29/12/1997 và Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 09/10/2003, hiện nay đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ
án này.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Lê Thị Bích
T phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014536 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố H (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực G - Thành phố H). Bà T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
3. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Bích T được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Bình S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực G - TP . HCM; - Phòng THADS Khu vực G - TP. HCM; - UBND Phường P, quận T (nay là UBND phường T1), Thành phố H1; - Đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Mộng Tuyền |