vanban.org

Bản án 98/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/DS-ST
Ngày 10 tháng 9 năm 2025
Tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường, bà Nguyễn Thị Thu Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến thương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 472/2025/TLST–DS ngày 25/6/2025 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-DS ngày 01/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 161/2025/QĐST-DS ngày 21/8/2025, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ngân hàng H;

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng D, Tòa nhà N, đường H, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ chi nhánh: Số A đường H, phường L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc C – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng H;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Hoàng N - Giám đốc Ngân hàng H Chi nhánh A (theo Quyết định số 610/2022/QĐ-NHHT ngày 25/11/2022 của Hội đồng quản trị Ngân hàng H, về việc ủy quyền tham gia tố tụng);

Người được uỷ quyền lại: Bà Nguyễn Thị Hoàng M – Cán bộ tín dụng Ngân hàng H Chi nhánh A (theo Giấy ủy quyền số 11/GUQ-CNAG ngày 31/03/2025 của Giám đốc Ngân hàng H Chi nhánh A). (có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Mai Hồng L, sinh năm: 1977

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1971

Cùng cư trú tại: Số D, tổ B, đường Q, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/11/2013, bị đơn bà Mai Hồng L và ông Nguyễn Văn T có lập và ký tên trên Đơn xin vay và cam kết trả nợ gửi đến nguyên đơn Ngân hàng H Chi nhánh A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng).

Ngày 18/11/2013, bà L và Ngân hàng ký kết Hợp đồng tín dụng số TD34300003 căn cứ theo Đơn xin vay và cam kết trả nợ của bà L, với nội dung như sau: số tiền vay: 60.000.000 đồng; mục đích sử dụng tiền vay: Phục vụ nhu cầu đời sống; thời hạn vay: 60 tháng (từ 18/11/2013 đến ngày 18/11/2018); mức lãi suất cho vay: 14,4%/năm; Số tiền cho vay được trả nợ thành 60 kỳ hạn. Trả nợ gốc và lãi vào ngày 5 của mỗi tháng. Số tiền gốc mỗi kỳ hạn là 1.000.000 đồng, số tiền gốc kỳ hạn cuối cùng là 1.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn, bà L đã thanh toán nợ vay hàng kỳ đúng theo hợp đồng cho vay. Nhưng đến tháng 5/2014, bà L không thực hiện thanh toán đúng kỳ hạn. Khoản vay của Bà L đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 30/10/2015 và áp dụng lãi suất quá hạn 16,56%/năm.

Đến ngày 25/11/2014, bà L đã thanh toán 8.000.000 đồng tiền gốc và trả nợ 5.604.800 đồng tiền lãi cho Ngân hàng, nhưng sau đó bà L vẫn không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Sau nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở, đến nay bà L vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như đã cam kết.

Tính đến ngày 16/06/2025, bà L đã trả gốc được 13.395.200 đồng, còn nợ gốc phải trả là 46.604.800 đồng và tiền lãi phải trả là 77.742.871 đồng, tổng nợ vay phải trả: 124.347.671 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn sáu trăm bảy mươi mốt đồng).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bà Mai Hồng L không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng H Chi nhánh A theo quy định, bà L đã vi phạm các cam kết, thỏa thuận trong hồ sơ vay vốn.

Vì vậy, nay Ngân hàng H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau:

Buộc bà Mai Hồng L cùng chồng là ông Nguyễn Văn T - người có trách nhiệm liên đới, phải thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng H với tổng số tiền nợ vay phải trả là 124.347.671 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) (trong đó tiền gốc là: 46.604.800 đồng; tiền lãi là: 77.742.871 đồng) và tiền lãi phát sinh thực tế theo mức lãi suất Ngân hàng quy định cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.

Tính đến ngày 10/9/2025, nguyên đơn Ngân hàng H yêu cầu bị đơn bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T phải trả cho ngân hàng tổng gốc và lãi là 126.166.101 đồng, trong đó nợ gốc là 46.604.800 đồng, lãi trong hạn là 20.187.462 đồng, lãi quá hạn là 59.373.839 đồng kèm theo Bảng kê lãi ngày 10/9/2025.

Bị đơn bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong quá trình tố tụng, không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Hoàng M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H, buộc bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng H số tiền vốn và lãi phát sinh theo các hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ngân hàng H đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng tín dụng được coi là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo Phiếu xác minh ngày 22/7/2025 do Công an phường L cung cấp thì bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T có đăng ký cư trú tại số D, tổ B, đường Q, khóm B, phường B, tỉnh An Giang, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Ngày 14/11/2013, bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T có có lập và ký tên trên Đơn xin vay và cam kết trả nợ gửi đến nguyên đơn Ngân hàng H Chi nhánh A. Ngày 18/11/2013, Ngân hàng và bà Mai Hồng L tiến hành ký kết Hợp đồng tín dụng số TD34300003 căn cứ theo Đơn xin vay và cam kết trả nợ của bà L, với nội dung HĐCV như sau: số tiền vay: 60.000.000 đồng; mục đích sử dụng tiền vay: Phục vụ nhu cầu đời sống; thời hạn vay: 60 tháng (từ 18/11/2013 đến ngày 18/11/2018); mức lãi suất cho vay: 14,4%/năm; Số tiền cho vay được trả nợ thành 60 kỳ hạn. Trả nợ gốc và lãi vào ngày 5 của mỗi tháng. Số tiền gốc mỗi kỳ hạn là 1.000.000 đồng, số tiền gốc kỳ hạn cuối cùng là 1.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L trả vốn, lãi đến ngày 25/11/2014 thì ngưng và khoản vay nêu trên đã quá hạn thanh toán và áp dụng lãi suất quá hạn 16,56%/năm. Ngân hàng ban hành thông báo nhắc nợ nhưng phía bà L, ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi về tài sản của Ngân hàng.

Về trách nhiệm liên đới, căn cứ Đơn xin vay và cam kết trả nợ lập ngày 14/11/2013 (búc lụt 34) thể hiện ông Nguyễn Văn T (chồng bà L) thống nhất cam kết trả nợ cho Ngân hàng; đồng thời do bà L và ông T có quan hệ vợ chồng nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ với nhau, Ngân hàng yêu cầu buộc trách nhiệm liên đới là có căn cứ theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc bà L, ông T phải có nghĩa vụ liên đới trách nhiệm trả vốn, lãi tính đến hết ngày 10/9/2025 là 126.166.101 đồng, trong đó nợ gốc là 46.604.800 đồng, lãi trong hạn là 20.187.462 đồng, lãi quá hạn là 59.373.839 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Đối với, việc Ngân hàng yêu cầu bà L, ông T tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ là phù hợp quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên được chấp nhận.

Bị đơn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà L, ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ngân hàng H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 68, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;

- Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

- Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng H.

Buộc bị đơn bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng H số tiền vay, lãi tính đến hết ngày 10/9/2025 là 126.166.101 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, một trăm linh một đồng), trong đó nợ gốc là 46.604.800 đồng, lãi trong hạn là 20.187.462 đồng, lãi quá hạn là 59.373.839 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/9/2025, bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số TD34300003 ngày 18/11/2013 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2] Về án phí sơ thẩm

Bị đơn bà Mai Hồng L, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ liên đới nộp 6.308.000đ (sáu triệu, ba trăm linh tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng H số tiền 3.108.000đ (ba triệu, một trăm linh tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003134 ngày 23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh A). Ngân hàng H chi nhánh A được đại diện nhận.

[3] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ