vanban.org

Bản án 98/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 19/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngà…

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. X phạt bị cáo Nguyễn Đình H 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (18/7/2024). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngà…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST
Ngày: 19 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hà và ông Nguyễn Đình Tùng.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam t sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra t

sơ th m số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 23/10/2024, đối với bị cáo:

+ Nguyễn Đình H - sinh năm 1966; nơi cư trú: khu phố T H, phường Đ B, thành phố T S, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lái e; trình độ văn hoá: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D và bà Ngô Thị C (đều đã chết); có vợ là Trần Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/7/2024 đến ngày 27/7/2024 chuyển tạm giam, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình H: bà Nguyễn Thị Minh Y và ông Nguyễn Văn H - Luật sư Công ty Luật TNHH GV; địa chỉ: Số 16, phố T Q V, phường D V H, quận C G, thành phố Hà Nội; bà Y có mặt, ông H vắng mặt.

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị B - sinh năm 1969 (đã chết);

- Những người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Bé:

+ Ông Đỗ Văn C - sinh năm 1972 (chồng bà B );

+ Anh Đỗ Đức C - sinh năm 1997 (con bà Bé);

Cùng nơi cư trú: thôn T X, xã T H, huyện T L, tỉnh Hà Nam.

+ Chị Đỗ Thu G - sinh năm 1995 (con bà B); nơi cư trú: Đội 1, ã Y P, huyện Y Y, tỉnh Nam Định;

- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị B: ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn T X, ã T H huyện T L, tỉnh Hà Nam (có đơn in t vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Phạm Xuân T - sinh năm 1972; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1963; vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị V - sinh năm 1954; vắng mặt.

4. Bà Nguyễn Thị M - sinh năm 1976; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 16/7/2024, Nguyễn Đình H (có giấy ph p lái e hạng D, giá trị đến ngày 05/12/2028) điều khiển e ô tô BKS 99B-003… chở đoàn khách khoảng gần 20 người đi từ ã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đến đền Sòng tại tỉnh Thanh Hóa và đền quan Hoàng Mười tại tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 04 giờ 23 phút ngày 17/7/2024, khi đi đến Km 249 + 300 QL1A thuộc địa phận thôn Đoan Vỹ 1, ã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, H điều khiển xe ô tô đi ở làn đường bên phải, sát m p đường theo chiều đi với tốc độ khoảng 60km/h, do ngủ gật nên H điều khiển e ô tô đi vào làn đường dành cho e thô sơ, người đi bộ ở phía bên phải chiều đường Phủ Lý - Ninh Bình và đi vào khu vực có đặt biển cảnh báo nguy hiểm (Biển cảnh báo số W224 - “Đường người đi bộ cắt ngang”) và gờ giảm tốc, dẫn đến góc bên phải phía trước đầu e ô tô do H điều khiển ô vào cần tay phanh, tay ga bên phải e máy điện không đeo biển kiểm soát do bà Nguyễn Thị B điều khiển đi phía trước ngược chiều tại làn đường dành cho e thô sơ làm xe máy điện đổ nghiêng bên trái ra đường, bà B bị đ y hất văng qua dải tôn hộ lan ra ngoài lề đường t vong tại hiện trường, xe ô tô do H điều khiển tiếp tục ô tỳ trượt vào dải tôn hộ lan. Sau đó, H điều khiển e ô tô rời khỏi hiện trường thì bà Nguyễn Thị V là hành khách trên xe nói to: “Va vào người đi xe ngược chiều chứ không phải va vào cái gì đâu” rồi mọi hành khách trên e yêu cầu H dừng e để kiểm tra thì H điều khiển e ô tô dừng lại bên phải chiều đường Phủ Lý - Ninh Bình QL1A cách vị trí ảy ra va chạm khoảng 100m về phía Ninh Bình để uống kiểm tra xe và phát hiện thấy góc phía trước bên phải đầu xe ô tô khách BKS 99B-003.65 bị hư hỏng, gương chiếu hậu bên phải bị rơi mất. Do sợ phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn giao thông nên H điều khiển e ô tô đi tiếp, đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày khi H đang chờ hành khách ở đền quan Hoàng Mười thuộc thôn 1, ã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh thì bị cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm triệu tập về trụ sở để làm việc.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô BKS 99B-003… kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký e ô tô số 006168; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0808323; 01 giấy ph p lái e số 270024270482, hạng D mang tên Nguyễn Đình H; 01 thẻ nhớ thu giữ từ camera hành trình gắn tại chắn gió phía trước xe ô tô BKS 99B-003…

- Xe máy điện không đeo biển kiểm soát;

- Các mảnh nhựa vỡ các loại; 01 logo nhựa màu ghi ám trên mặt có chữ “H”; 01 ốp gương chiếu hậu màu đen kích thước (32,5 20)cm; 01 đèn gầm;

- Thu chất màu nâu vàng (nghi sơn) bám dính trên hệ thống tôn hộ lan niêm phong trong phong bì kí hiệu A1;

- Thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Đình H niêm phong ký hiệu M1; thu mẫu máu của t thi bà Nguyễn Thị B niêm phong ký hiệu M2 (không thu được mẫu nước tiểu do bàng quang bị sẹp) để phục vụ công tác giám định.

Tại phiếu đo nồng độ cồn do Công an huyện Thanh Liêm lập hồi 00 giờ 36 phút ngày 18/7/2024 đối với Nguyễn Đình H kết quả là 0.000 mg/L.

Ngày 17/7/2024, cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm ra các Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định nguyên nhân dẫn đến t vong của bà Nguyễn Thị B; giám định đối với các mẫu niêm phong ký hiệu M1, M2 để ác định nồng độ cồn trong máu; chất ma túy trong mẫu nước tiểu.

Tại bản Kết luận giám định số 546, 548/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

“Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp (Heroin, Methamphetamine, Ketamine, MDMA,…) trong mẫu nước tiểu ký hiệu M1 gửi giám định.

Không tìm thấy Ethanol (cồn) trong mẫu máu ký hiệu M2 ghi thu của tử thi Nguyễn Thị B… gửi giám định” (bút lục số 87, 91).

Tại bản kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị B: Đa chấn thương (chấn thương cột sống cổ, chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương”.

* Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn điều tra Nguyễn Đình H đã tác động gia đình thoả thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị B tổng số tiền là 200.000.000 đồng, đại diện gia đình H đã bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng. Trong giai đoạn chu n bị t , gia đình bị cáo H đã bồi thường số tiền còn lại 100.000.000 đồng cho đại diện gia đình bà B.

* Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định

lý vật chứng và trả lại e máy điện không đeo biển kiểm soát là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị B cho đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của gia đình bà B là ông Nguyễn Văn T.

Tại bản Cáo trạng số 91/CT-VKS-TA ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Nguyễn Đình H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng t : tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự - phạt Nguyễn Đình H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2024; hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 260, Điều 41 của Bộ luật Hình sự - phạt bổ sung, cấm bị cáo Nguyễn Đình H hành nghề lái e ô tô từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày chấp hành ong hình phạt tù. Về lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho Nguyễn Đình H 01 xe ô tô BKS 99B-003… kèm theo các giấy tờ có liên quan; tịch thu tiêu hủy các mảnh nhựa vỡ các loại, 01 logo nhựa màu ghi ám trên mặt có chữ “H”, 01 ốp gương chiếu hậu màu đen, 01 đèn gầm, 01 chất màu nâu nghi sơn; trả lại cho Nguyễn Đình H 01 Giấy ph p lái e hạng D số 270024270482, sau khi chấp hành ong hình phạt bổ sung; lưu trong hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình H - bà Nguyễn Thị Minh Y nhất trí tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố với bị cáo thì chưa chính ác vì căn cứ lời khai của bị cáo và người làm chứng thì bị cáo không có ý thức bỏ trốn, bị cáo không nhìn thấy các biển cảnh báo, bị cáo không vi phạm về tốc độ sau khi xảy ra tai nạn bị cáo có dừng lại quan sát. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện đang bị bệnh HIV B20 chuyển sang giai đoạn AIDS; tai nạn ảy ra có một phần lỗi của bị hại do bị hại đi ngược chiều tại làn đường dành cho e thô sơ; nên đề nghị Hội đồng xét quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Đình H đã thành kh n khai nhận hành vi phạm tội của mình nhưng không thừa nhận hành vi bỏ trốn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, x t đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị B có đơn in t vắng mặt, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. X t thấy, sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng t quyết định vẫn tiến hành t theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nhưng không thừa nhận hành vi bỏ trốn. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm t thi, Biên bản khám phương tiện, Bản kết luận giám định pháp y về t thi, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng t có đủ cơ sở ác định: hồi 04 giờ 23 phút ngày 17/7/2024, Nguyễn Đình H có giấy ph p lái e hạng D, giá trị đến ngày 05/12/2028, điều khiển xe ô tô BKS 99B - 003… trên đường QL1A chạy hướng Phủ Lý - Ninh Bình, khi đi đến Km 249 + 300 QL1A thuộc địa phận thôn Đoan Vỹ 1, ã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm do ngủ gật trong quá trình điều khiển e ô tô nên H điều khiển e ô tô đi vào làn đường dành cho e thô sơ ở phía bên phải chiều đường Phủ Lý - Ninh Bình (đi không đúng phần đường quy định), đồng thời không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn tại khu vực có đặt biển cảnh báo nguy hiểm (Biển cảnh báo số W224 “Đường người đi bộ cắt ngang”) và gờ giảm tốc dẫn đến góc phía trước bên phải đầu e ô tô do H điều khiển ô vào cần tay phanh, tay ga bên phải e máy điện do bà Nguyễn Thị B điều khiển đi phía trước ngược chiều tại làn đường dành cho e thô sơ làm bà B bị hất văng qua dải tôn hộ lan ra ngoài lề đường dẫn đến t vong. Sau đó, Nguyễn Đình H đã điều khiển e ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đình H đã vi phạm khoản 1 Điều 9, Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của e cơ giới, e máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người. Sau khi gây tai nạn H đã điều khiển e ô tô bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm nên H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho ã hội, âm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, âm hại đến tính mạng của người khác, gây tâm lý hoang mang cho cho những người tham gia giao thông. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng t thấy cần ra bản án nghiêm khắc tương ứng hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra bị cáo đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nhưng không thừa nhận hành vi bỏ trốn; nên Hội đồng t cân nhắc t cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; sau khi tai nạn ảy ra bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo mắc bệnh (HIV); đại diện gia đình bị hại là ông Đỗ Văn C và người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại - ông Nguyễn Văn T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên Hội đồng t

em t cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: qua em t nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng t

t thấy, bị cáo Nguyễn Đình H sau khi gây tai nạn đã điều khiển e ô tô bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm, hành vi của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi ã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhất là đối với loại tội phạm này. Hội đồng t thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái e ô tô trong một thời gian nhất định.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị B số tiền 200.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường ong, đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác; nên Hội đồng t không em t, giải quyết.

Về lý vật chứng:

- Đối với e máy điện không đeo biển kiểm soát là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị B; quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra Quyết định lý vật chứng và trả lại cho đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của gia đình bà B (ông Nguyễn Văn T), là đúng pháp luật.

- Đối với xe ô tô BKS 99B-003… và các giấy tờ: giấy chứng nhận đăng ký e ô tô số 006168; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT đối phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0808323 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Đình H nên cần trả lại cho H.

- Đối với 01 giấy ph p lái e hạng D số 270024270482 là giấy tờ hợp pháp của Nguyễn Đình H; nên cần trả lại H sau khi bị cáo chấp hành ong hình phạt bổ sung.

- Đối với 01 thẻ nhớ lưu giữ hình ảnh chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Đình Hằng, nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

- Đối với các mảnh nhựa vỡ các loại; 01 logo nhựa màu ghi ám trên mặt có chữ “H”; 01 ốp gương chiếu hậu màu đen; 01 đèn gầm, chất màu nâu vàng (nghi sơn) không có giá trị s dụng; nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về các vấn đề khác: việc người bào chữa đề nghị Hội đồng t

quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình H theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng t thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho ã hội; tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thừa nhận hành vi bỏ trốn; sau khi tai nạn ảy ra, khi hành khách trên xe nói va vào người đi xe ngược chiều rồi và yêu cầu dừng e để kiểm tra thì bị cáo mới uống e để kiểm tra nhưng bị cáo không làm hết trách nhiệm của mình chỉ kiểm tra ở vị trí cách e ô tô bị cáo dừng đỗ một khoảng cách gần, chứ không kiểm tra tại vị trí ảy ra va chạm do bị cáo sợ phải chịu trách nhiệm nên đã bỏ trốn, gây khó khăn trong việc điều tra, gây bức xúc cho gia đình bị hại; do đó không có căn cứ để chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ th m theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- X phạt bị cáo Nguyễn Đình H 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (18/7/2024).

- Hình phạt bổ sung: cấm bị cáo Nguyễn Đình H hành nghề lái e ô tô trong thời hạn 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày chấp hành ong hình phạt tù.

2. X lý vật chứng:

- Trả lại cho Nguyễn Đình H 01 xe ô tô BKS 99B-003… và các giấy tờ: giấy chứng nhận đăng ký e ô tô số 006168; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT đối phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0808323.

- Tịch thu tiêu hủy các mảnh nhựa vỡ các loại; 01 logo nhựa màu ghi ám trên mặt có chữ “H”; 01 ốp gương chiếu hậu màu đen; 01 đèn gầm; chất màu nâu vàng niêm phong trong phong bì kí hiệu A1; (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm)

Trả lại cho Nguyễn Đình H 01 Giấy ph p lái e hạng D số 270024270482, sau khi chấp hành ong hình phạt bổ sung; lưu trong hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ.

4. Về án phí: bị cáo Nguyễn Đình H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ th m.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ