- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bảo T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bảo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày: 02/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Thắng.
Ông Nguyễn Tống Nê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Cái Chí Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 11/TA ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Bảo T, sinh năm 1993; tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số A ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Nuôi gà; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Bửu T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 19/9/2024, bị Công an huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 21/4/2024, bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lê Bửu T1, sinh năm 1969; (Có mặt)
Nơi cư trú: Số A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Người chứng kiến:
+ Phạm Ngọc H, sinh năm 1967; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: 48B, ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
+ Mai Văn X, sinh năm 1960; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: 215A, ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên vào khoảng 17 giờ ngày 15/4/2024, Lê Bảo T điều khiển xe mô tô biển số 71F6-3924 đến quán C thuộc ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre tìm người tên thường gọi “Lọ” (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, “Lọ” bán cho T 01 túi nylon màu trắng bên trong chứa ma tuý với giá 200.000 đồng. Sau khi có được ma tuý, T đem ma tuý về nhà, lấy một phần ra sử dụng, phần ma tuý còn lại T cất giấu vào trong một vỏ bao thuốc lá hiệu Craven A rồi bỏ vào bên trong túi quần phía trước bên trái. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 71F6-3924 tìm chỗ cầm xe, khi T điều khiển xe đến khu vực ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre thì bị Công an xã H tuần tra, phát hiện nên thông báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đến lập biên bản bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 túi nylon hàn kín bốn phía, bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M;
- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN A màu trắng - đỏ;
- 01 xe mô tô biển số 71F6-3924, nhãn hiệu Longcin, loại xe Super Dream, màu nâu, số khung AM10001025295, số máy LC150FM01025295, không gắn gương chiếu hậu bên phải;
- 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đỏ, có gắn sim số 033.539.3835, số IMEI1: 357966108974974, số IMEI2: 357967108974972;
- 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đỏ bị nứt màn hình, có gắn sim số 039.997.2924, số IMEI1: 351577116749393, số IMEI2: 351578116749391.
Kết luận giám định số 320/2024/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine khối lượng 0,2876 gam. Hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M sau giám định đã được niêm phong lại có khối lượng 0,2304 gam.
Cáo trạng số: 85/CT-VKSCT ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Lê Bảo T về “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Lê Bảo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Bảo T từ 01 năm đến 02 năm tù.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 phong bì số 320/2024 đã được niêm phong, có chữ ký ghi rõ họ tên Dương Minh T3, Nguyễn Ngọc M, Phan Trung T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy cùng vỏ bao gói;
+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN A màu trắng - đỏ;
- Ghi nhận quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Lê Bửu T1: 01 xe mô tô biển số 71F6-3924, nhãn hiệu Longcin, loại xe Super Dream, màu nâu, số khung AM10001025295, số máy LC150FM01025295, không gắn gương chiếu hậu bên phải; 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đỏ, có gắn sim số 033.539.3835, số IMEI1: 357966108974974, số IMEI2: 357967108974972;
- Trả lại cho bị cáo Lê Bảo T: 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đỏ bị nứt màn hình, có gắn sim số 039.997.2924, số IMEI1: 351577116749393, số IMEI2: 351578116749391.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại tòa, người chứng kiến vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản ghi lời khai những người chứng kiến; biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận giám định. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 22 giờ 45 phút, ngày 15/4/2024, tại ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, Công an huyện C phối hợp Công an xã H bắt quả tang Lê Bảo T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,2876 gam để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của cá nhân. Khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,2876 gam, loại: Methamphetamine. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Bảo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi bị cáo phạm tội, mà còn gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác nên cần phải xử lý nghiêm và kịp thời. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 phong bì số 320/2024 đã được niêm phong, có chữ ký ghi rõ họ tên Dương Minh T3, Nguyễn Ngọc M, Phan Trung T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy cùng vỏ bao gói, đây là chất ma túy cấm lưu hành và phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01 vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN A màu đỏ - trắng, quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo khai nhận dùng để cất giấu chất ma túy, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 71F6-3924, nhãn hiệu Longcin, loại xe Super Dream, màu nâu, số khung AM10001025295, số máy LC150FM01025295, không gắn gương chiếu hậu bên phải; quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo xác định đây là tài sản của cha bị cáo là ông Lê Bửu T1 cho bị cáo sử dụng; kết quả xác minh xác định xe do ông T1 đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông T1 khẳng định không biết bị cáo sử dụng xe này để đi mua ma túy về sử dụng và có yêu cầu nhận lại xe nên quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe cho ông Lê Bửu T1 là phù hợp nên ghi nhận.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đỏ, có gắn sim số 033.539.3835, số IMEI1: 357966108974974, số IMEI2: 357967108974972; quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo và ông Lê Bửu T1 thống nhất xác định đây là tài sản của ông T1 cho bị cáo mượn sử dụng để chơi game, ông T1 có yêu cầu nhận lại tài sản; Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại không phát hiện tin nhắn, cuộc gọi liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do quá trình điều tra xác định tài sản không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại tài sản cho ông Lê Bửu T1 là phù hợp nên ghi nhận.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu đỏ, bị nứt màn hình, có gắn sim của số thuê bao 039.997.2924, số IMEIl: 351577116749393, IMEI2: 351578116749391 là tài sản của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại không phát hiện tin nhắn, cuộc gọi có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Quá trình điều tra, xác định tài sản không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại tài sản cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Đối với đối tượng tên “Lọ” bán ma túy cho bị cáo: Bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ của đối tượng, do thông tin không đầy đủ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thể xác định được đối tượng “Lọ” nên không có cơ sở đề cập, xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Bảo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[1] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Bảo T 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 21/4/2024.
[2] Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ Một phong bì số 320/2024 đã được niêm phong, có chữ ký ghi rõ họ tên Dương Minh T3, Nguyễn Ngọc M, Phan Trung T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (có khối lượng 0,2304 gam) cùng vỏ bao gói;
+ Một vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN A màu đỏ - trắng;
- Ghi nhận quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Lê Bửu T1: Một xe mô tô biển số 71F6-3924, nhãn hiệu Longcin, loại xe Super Dream, màu nâu, số khung AM10001025295, số máy LC150FM01025295, không gắn gương chiếu hậu bên phải; Một điện thoại di động hiệu SamSung màu đỏ, có gắn sim số 033.539.3835, số IMEI1: 357966108974974, số IMEI2: 357967108974972;
- Trả lại cho bị cáo Lê Bảo T: Một điện thoại di động hiệu SAMSUNG, kiểu máy SM-A107F/DS, IMEI 1: 351577116749393, IMEI 2: 351578116749391, màu đỏ, gắn một sim điện thoại của số thuê bao 0399972924, không gắn thẻ nhớ ngoài, bị nứt vỡ màn hình.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
[3] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Bảo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND T.Bến Tre; - VKSND T.Bến Tre; - Cơ quan THAHS CA T.Bến Tre; - Sở Tư pháp T.Bến Tre; - VKSND H.Châu Thành; - Chi cục THADS H.Châu Thành; - Công an H.Châu Thành; - Bộ phận HS CA H.Châu Thành; - UBND xã Hữu Định, H.Châu Thành; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Triều |