vanban.org

Bản án 98/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị A và anh Lê Tấn N.

Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên la… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Lê Tấn N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị A và anh Lê Tấn N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 23-8-2024
V/v Ly hôn
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Liêm;

Ông Mai Quốc Vũ.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Hảnh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1985; cư trú tại: khu phố GH phường TB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh, có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Tấn N, sinh năm 1986; cư trú tại: khu phố AT, phường AT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2024 và bản tự khai - nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:

Chị và anh N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2022, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại nhà riêng của chị tại khu phố Gia Huỳnh, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Trong thời gian chung sống, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh N không lo làm ăn để chăm lo cuộc sống gia đình mà thường xuyên ham chơi, cờ bạc. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay.

Về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Không có.

Nay chị yêu cầu ly hôn với anh N. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Tấn N trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày của chị Ý là đúng về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn anh thừa nhận do anh cờ bạc nên vợ chồng gây gỗ với nhau. Anh tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Mặc dù anh đã nhiều lần năn nỉ nhưng chị A không đồng ý. Nay anh yêu cầu đoàn tụ vì còn thương vợ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị A và anh Lê Tấn N.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị A vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Lê Tấn N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị A, anh N.

Về hôn nhân: Chị A và anh N chung sống với nhau vào năm 2022, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị A và anh N chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị A trình bày do anh N thường xuyên cờ bạc, chị khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh N vẫn không thay đổi. Nay chị A vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh N. Anh N xin đoàn tụ và thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do anh. Tuy nhiên Tòa án mời anh nhiều lần đến tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa anh N vẫn vắng mặt, do đó thể hiện anh không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Nay chị A vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh N. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh N đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được; căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A.

Về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Không có nên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị A và anh Lê Tấn N.

2. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0015632 ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng; chị A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ