- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Th - Nguyễn Văn V (ly hôn)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu đối…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Hiệp;
Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1991 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 03 tháng 5 năm 2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hồng T với ông Nguyễn Văn V tổ chức cưới năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H 2 ngày 09/3/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì thường phát sinh mâu thu n do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đến đầu năm 2021 thì vợ chồng đã không còn sống chung với nhau cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc nên nay bà T yêu cầu ly hôn với ông V.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà T và ông V có 02 con chung tên Nguyễn Anh L, sinh ngày 09/05/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/02/2019, hiện nay 02 con đang sống chung với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu nuôi 02 con, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi 02 con theo quy định pháp luật, cấp dưỡng 01 lần.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Hồng T tổ chức cưới năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H 2 ngày 09/3/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì thường phát sinh mâu thu n do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đến đầu năm 2021 thì vợ chồng đã không còn sống chung với nhau cho đến nay. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông và bà T có 02 con chung là Nguyễn Anh L, sinh ngày 09/05/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/02/2019, hiện nay 02 con đang sống chung với bà T. Khi ly hôn ông nhường quyền nuôi 02 con cho bà T trực tiếp nuôi đến khi các con đủ 18 tuổi. Hiện nay ông đang làm công việc bên xây dựng, lương m i tháng khoảng 6.000.000 đồng nhưng ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, khi nào có tiền thì ông s tự nguyện cho các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử bà T được ly hôn với ông V. Về con chung: Đề nghị giao cho bà T được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Anh L, sinh ngày 09/05/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/02/2019 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi 02 con chung m i cháu 1.725.000 đồng/ tháng, cấp dưỡng hàng tháng cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét và đề nghị tuyên về án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất nhưng vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn V tự nguyện tổ chức cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn V là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông V đã phát sinh nhiều mâu thu n do bất đồng ý kiến. Bà T và ông V đã không còn sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay không hàn gắn được d n đến bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà T và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Bà T và ông V có 02 con chung là Nguyễn Anh L, sinh ngày 09/05/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/02/2019, hiện đang sống chung với bà T. Xét thấy, hiện nay 02 con chung đang sống chung với bà T, bà T cũng yêu cầu được quyền nuôi 02 con. Do đó, nhằm để ổn định cuộc sống hiện tại, không làm ảnh hưởng đến tâm lý, việc học của các con chung thì cần thiết giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Ông V được quyền thăm nom 02 con chung, không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, cấp dưỡng một lần. Xét thấy, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật. Về mức cấp dưỡng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Do các bên không không thỏa thuận được mức cấp dưỡng. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định thì mức cấp dưỡng thấp nhất là ½ mức lương tối thiểu vùng, tại thời điểm xét xử huyện M thuộc vùng IV có mức lương tối thiểu theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ là 3.450.000 đồng. Vì vậy, mức cấp dưỡng cần buộc bị đơn có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 1.725.000 đồng/con chung. Về thời gian cấp dưỡng: Tính từ ngày tuyên án cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Bà T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con một lần nhưng ông V không đồng ý, do đó Hội đồng xét xử buộc ông V cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Nguyễn Văn V phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Hồng T được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Anh L, sinh ngày 09/05/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/02/2019 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn V được quyền thăm nom các con chung Nguyễn Anh L và Nguyễn Bảo N, không ai được quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc ông Nguyễn Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là Nguyễn Anh L, sinh ngày 09/05/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/02/2019 m i cháu là 1.725.000 đồng/tháng. Cấp dưỡng hàng tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng: Tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn V không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu Tạm ứng án phí, Lệ phí Toà án số 0004669 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên. Bà Nguyễn Thị Hồng T đã nộp xong. Ông Nguyễn Văn V phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
8. Về việc thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục T.H.A DS huyện Mỹ Xuyên; - UBND xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên (Theo GCNKH số 37 ngày 09/3/2017); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mến |