vanban.org

Bản án 98/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Phúc H được ly hôn với ông Đỗ Văn D.

Về nuôi con chung: Các con chung tên Đỗ Thị Ngọc B, sinh ngày 25-12-1998; Đỗ Thị Thúy K, sinh ngày 28-12-2002 và Đỗ Thị Ngọc N, sinh ngày 25-12-2004, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Phúc H - Ly hôn - Đỗ Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lê Thị Phúc H được ly hôn với ông Đỗ Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-12-2024
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Nhanh.

Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đông Sang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 307/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phúc H - Sinh năm 1981 - Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn D - Sinh năm 1974 - Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17-10-2024, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Phúc H trình bày:

Bà và ông Đỗ Văn D tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 11-12-2002 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 162/2002 ngày 11-12-2002. Bà và ông D sống chung hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông D thường xuyên nhậu về đánh đập bà, có lần ông D còn dùng dao chém bà nhưng bà chạy thoát, mâu thuẫn giữa bà và ông D đã trầm trọng. Bà và ông D sống ly thân từ tháng 8-2024 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Văn D.

Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Đỗ Thị Ngọc B, sinh ngày 25-12-1998; Đỗ Thị Thúy K, sinh ngày 28-12-2002 và Đỗ Thị Ngọc N, sinh ngày 25-12-2004. Khi ly hôn các con chung đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Văn D trong quá trình tố tụng trình bày:

Ông đồng ý lời trình bày của bà H về ngày tháng, điều kiện kết hôn, tình trạng hôn nhân, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nguyên nhân mâu thuẫn do bà H ngoại tình nhưng ông vẫn tha thứ để bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Về hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Lê Thị Phúc H.

Nguyên đơn bà H có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Lê Thị Phúc H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đỗ Văn D, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Lê Thị Phúc H và ông Đỗ Văn D chung sống có đăng ký kết hôn ngày 11-12-2002 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử nhận định: bà H cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do mâu thuẫn đã trầm trọng, ông D thường xuyên nhậu về đánh đập bà, có lần ông D còn dùng dao chém bà nhưng bà chạy thoát. Ông D cho rằng bà H ngoại tình. Xét cả hai đều không cung cấp chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà H và ông D nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Các con chung tên Đỗ Thị Ngọc B, sinh ngày 25-12-1998; Đỗ Thị Thúy K, sinh ngày 28-12-2002 và Đỗ Thị Ngọc N, sinh ngày 25-12-2004, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy:

Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Ông D không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Phúc H được ly hôn với ông Đỗ Văn D.

2. Về nuôi con chung: Các con chung tên Đỗ Thị Ngọc B, sinh ngày 25-12-1998; Đỗ Thị Thúy K, sinh ngày 28-12-2002 và Đỗ Thị Ngọc N, sinh ngày 25-12-2004, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Phúc H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004836 ngày 21-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ