- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn Long - Tàng trữ MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98 /2023/HSST Ngày: 14/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Giao
Bà Phạm Thị Nga
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Quách Thị Thuỷ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông – Đặng Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2023/HSST ngày 15/8/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/ 2023//HSST-QĐ, ngày 31/8/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn L, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ 4, phường ĐT, thành phố HB, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Chu Thế C, sinh năm 1950; Con bà: Phạm Thị Minh S, sinh năm 1950; Vợ: Hoàng Thị A, sinh năm 1978, con: có 1 con sinh năm1998; Gia đình bị cáo có 04 (bốn) anh em. Bị cáo là con thứ tư trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 06/02/1999 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giam giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình từ ngày 30/5/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Văn L là người sử dụng trái phép chất ma túy và thường xuyên uống thuốc Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hòa Bình. Ngày 28/5/2023, tại cổng Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hòa Bình, Lgặp một người đàn ông cùng đi uống thuốc Methadone, Lvà người đàn ông này rủ nhau góp mỗi người 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để mua ma túy sử dụng, Lbảo người đàn ông khi nào mua được ma túy thì đưa cho Long. Đến khoảng 10 giờ ngày 30/5/2023 tại khu vực đê Đà Giang thuộc địa phận tổ 06, phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, L gặp lại người đàn ông mà Lđã đưa tiền mua ma túy trước đó, người đàn ông đó đưa cho L một gói giấy, Lbiết bên trong gói giấy là ma túy nên cầm trong lòng bàn tay trái và đi bộ về. Vừa đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an thành phố Hòa Bình kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói ma túy Lđang cầm trong lòng bàn tay trái. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và dẫn giải Lcùng tang vật về Công an thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình để điều tra, xác minh theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số: 231/KL-KTHS ngày 07/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận: “Chất bộ dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi tên đối tượng Chu Văn L, sinh năm 1977, HKTT và chỗ ở: Tổ 04, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, gửi giám định có khối lượng 0,15g (Không phẩy mười lăm gam), là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine”.
Cáo trạng số 91/CT – VKS ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Chu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Chu Văn L và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 47; điều 38 Bộ luật hình sự: Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử phạt Chu Văn L từ 13 đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Bị cáo đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà viện kiểm sát đề nghị. Không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiên khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện: Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:
Chu Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Để có ma túy sử dụng cho bản thân, ngày 30/5/2023, Lđã góp tiền mua, tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,15g (Không phẩy mười lăm gam gam) ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 06, phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố.
Về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua và cất giữ ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự an ninh tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng 30 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Bản án số 16/HSST – đã được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Chu Văn L khai nhận đưa tiền cho người đàn ông không quen biết mua hộ. Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xác định người đã mua ma túy cùng với Llà ai, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Số ma tuý thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Văn L 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/5/2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả sau giám định chất ma túy một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định, Vụ: Chu Văn L, sinh năm 1977 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 30/5/2023. Tại: Phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần niêm phong được bảo quản nguyên vẹn”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 102/BB ngày 06/9/2023 giữa Công an thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình)
4. Về án phí: Bị cáo Chu Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB. - VKSND tỉnh Hòa Bình. - VKSND thành phố Hòa Bình. - Công an thành phố Hòa Bình . - THA hình sự TPHB - Chi cục THADS TPHB - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo; Lưu HS + VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Hằng |