- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạc Văn Quang - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lạc Văn Q 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 98 /2023/HSST Ngày 16/8/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
*Các Hội thẩm nhân dân: - 1. Ông Vũ Ngọc Côn.
-2. Ông Giáp Văn Phẩm.
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa:
Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 16 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2023/QĐST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lạc Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1984, tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, Đảng phái: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Bố đẻ: Lạc Tia S, sinh năm 1949 (đã chết); Mẹ đẻ: Ngô Thị C, sinh năm 1949, trú tại thôn T, xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Vợ: Dương Thị L, sinh năm 1989, hiện trú tại thôn T, xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến ngày 09/6/2023 được thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện bị can đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1967 ( Vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Leo Văn L, sinh năm 1969 ( Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Cổ Văn T, sinh năm 1983 ( Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn T 1, xã T, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
3. Anh Leo Văn M, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
4. Anh Trương Văn N, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Bến Huyện, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng: Anh Nông Chí H, sinh năm 1988 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn T 1, xã T, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 24/02/2022, ông Hoàng Văn H sinh năm 1967, trú tại thôn A, xã Đô, huyện Lục Ngạn cùng với Lạc Văn Q sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã P, huyện Lục Ngạn có nhờ anh ông Leo Văn M sinh năm 1979, trú tại thôn Hai Cũ, xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn đưa đến nhà ông Leo Văn L sinh năm 1969, trú tại thôn H, xã Q, huyện Lục Ngạn, mục đích để anh H thuê xe ô tô của ông L. Khi đến nhà ông L thi ông H và ông L thỏa thuận bằng miệng, ông H thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA loại INNOVA, màu bạc, biển kiểm soát: 98A-248.85 với số tiền 10.000.000 đồng trên một tháng. Sau khi thuê được xe ô tô của ông L thì ông Hgiao xe cho Lạc Văn Q quản lý để chở ông H, do ông H không có giấy phép lái xe. Khoảng cuối tháng 2/2022, Q điều khiển ô tô do ông H thuê của ông L chở ông H lên tỉnh Lạng Sơn để ông H tìm thuê đất trồng rừng, ông H ở lại Lạng Sơn còn Q lái xe đi về nhà trước. Đến ngày 07/3/2022, do không có tiền chi tiêu cá nhân, Lạc Văn Q đã đem chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA loại INNOVA, màu bạc, biển kiểm soát: 98A-248.85 do ông H thuê của ông L đến cửa hàng cầm đồ của anh Cổ Văn Tám sinh năm 1983 ở thôn Thanh Văn 1, xã T, huyện Lục Ngạn nói là xe của mình và cầm cố cho anh T để vay số tiền 120.000.000 đồng, hai bên có làm hợp đồng cần đồ thời hạn vay từ ngày 07/3/2022 đến ngày 17/3/2022. Đến hạn không thấy Lạc Văn Q đến thanh lý hợp đồng, anh T đã liên lạc nhiều lần nhưng Q không đến trả tiền cho anh để thanh toán hợp đồng. Ngày 10/5/2022, anh T đã bán chiếc xe ô tô trên cho người không quen biết vưới giá 100.000.000 đồng, có làm hợ đồng mua bán do người mua xe giữ.
Khi hết hạn cho thuê xe ô tô, ngày 08/4/2022 ông L có đơn gửi Công an xã Quý sơn đề nghị giải quyết.
Ngày 15/4/2022 Công an xã Q chuyển tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đề nghị giải quyết.
Ngày 19/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn ra Yêu cầu định giá tài sản số 104 đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, màu bạc, biển số 98A-248.85 do Q chiếm đoạt của ông Hoàng Văn H. Tại Kết luận định giá tài sản số103, ngày 22/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn đã kết luận: 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Toyota, số loại INNOVA J, màu sơn bạc, BKS 98A-248.85, xe do Việt Nam lắp ráp năm 2008, đăng ký lần đầu ngày 29/7/2008 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 170.000.000 đồng.
Ngày 22/02/2023, anh Cổ Văn T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn 01 Hợp đồng cầm đồ với nội dung: Lạc Văn Q cầm cố 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, màu bạc, biển số 98A-248.85 cho anh Cổ Văn T để vay số tiền 120.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 07/3/2022 đến ngày 17/3/2022.
Ngày 23/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn ra Quyết định trưng cầu giám định số 78 đối với chữ viết, chữ ký của Lạc Văn Q, Cổ Văn T trong Hợp đồng cầm đồ do anh Cổ Văn T giưo nộp. Tại Kết luận giám định số 355, ngày 02/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đã kết luận:
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “Q-Lạc Văn Q” dưới mục “Người cầm đồ” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Lạc Văn Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M6 đến M10) là do cùng một người ký, viết ra.
- Chứ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A - trừ nội dung đã kết luận ở trên) so với chữ ký, chữ viết của Cổ Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một người ký, viết ra.
Các ngày 22/02/2023, 23/02/2023, 17/02/2023, 09/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn tiến hành cho anh Cổ Văn T, Leo Văn L, Leo Văn Mạ, Hoàng Văn H nhận dạng Lạc Văn Q qua ảnh, quá trình nhận dạng, anh T, L, Mạ, Hđều nhận ra người trong ảnh là Lạc Văn Q.
Tại bản cáo trạng số: 88/CT- VKS - HS ngày 02 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Lạc Văn Q về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lạc Văn Q từ 33 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Giao bị cáo Lạc Văn Q về UBND xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận bồi thường xong và không có đề nghị gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
* ¸n phÝ: Căn cứ §iÒu 135,136 Bé luËt tè tông h×nh sù 2015. c¸c ®iÒu 3; điểm đ Điều 12; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Người bị hại xác định đã thỏa thuận bồi thường xong với bị cáo nên không có đề nghị gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Ngạn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định Lạc Văn Q sinh năm 1984, trú tại thôn Thuận A, xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc được ông Hoàng Văn H sinh năm 1967, trú tại thôn Ao Tán, xã Đ, huyện Lục Ngạn tin tưởng giao cho quản lý chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại INNOVA J, màu sơn bạc, BKS 98A-248.85 do ông H thuê của ông Leo Văn L sinh năm 1969, trú tại thôn H, xã Q, huyện Lục Ngạn vào ngày 24/02/2022, để Q chở ông H đi mỗi khi có việc cần. Ngày 07/3/2023, do cần tiền tiêu, nên Q có hành vi cầm cố chiếc xe ô tô trên cho anh Cổ Văn T sinh năm 1983 ở thôn Thanh Văn 1, xã T, huyện Lục Ngạn nói là xe của mình và cầm cố cho anh Tám để vay số tiền 120.000.000 đồng, nhưng sau đó Q không đến chuộc theo thoả thuận trong hợp đồng. Chiếc xe ô tô trên có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 170.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lạc Văn Q đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo theo điểm c Khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được nhà nước bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong quản lý tài sản. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung với loại tội phạm này.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, được người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, có địa chỉ cụ thể, rõ ràng, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo, giáo dục tại địa phương như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Leo Văn L đã nhận số tiền bồi thường 100.000.000 đồng và không yêu cầu phải bồi thường gì khác đối với bị cáo và ông H; anh Cổ Văn Tám không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; điểm đ Điều 12; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí HSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lạc Văn Q 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Giao bị cáo Lạc Văn Q về UBND xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2. ¸n phÝ: Căn cứ Điều135,136 Bé luËt tè tông h×nh sù 2015. Điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lạc Văn Q.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Lục Ngạn;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Công an huyện Lục Ngạn;
- TAND Tỉnh Bắc Giang;
- THADS huyện Lục Ngạn;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người liên quan;
Lương Thị Ngọc Hà
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
C¸c héi thÈm nh©n d©n
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ
Lương Thị Ngọc Hà
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lục Ngạn; - Công an huyện Lục Ngạn; - TAND Tỉnh Bắc Giang; - THADS huyện Lục Ngạn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ, văn phòng. C¸c héi thÈm nh©n d©n | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Lương Thị Ngọc Hà |