vanban.org

Bản án 302/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn B phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Võ Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Bul - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn B phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 140 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 302/2017/HS-ST
Ngày 17-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Thế;

Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số 315/2017/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 312/2017/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Võ Văn B, sinh năm 1991 tại tỉnh A; nơi cƣ trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh A; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn H, đã chết và bà Lê Hồng T, sinh năm 1967; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 08/8/2017. có mặt.

- Người bị hại: Anh Văn Đình H, sinh năm 1996; thƣờng trú: Ấp B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phƣớc. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Gia Q, sinh năm 1982; địa chỉ: 280 Tô Ký, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Võ Văn B và anh Văn Đình H là bạn bè cùng làm công nhân ốp lát đá hoa cƣơng và ở chung phòng trọ tại xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 13/12/2016, anh H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38 chở B đi từ huyện H đến công trình xây dựng tại địa chỉ 522/31/18 Quốc lộ 1K, khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để thi công việc ốp lát đá hoa cƣơng. Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, Võ Văn B bị đau bụng nên anh H đã cho B mƣợn xe mô tô biển số 36K5 – 057.38 để B đi mua thuốc uống. Trên đƣờng đi mua thuốc thì B đã điều khiển xe mô tô nói trên đến thành phố B,tỉnh Đ để gặp C (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ C mang xe đi tiêu thụ. Sau đó, B đã tắt điện thoại, không liên lạc với anh H nữa. Ngày 14/12/2016, B và C mang xe của anh H đến tiệm cầm đồ B tại địa chỉ 280 Tô Ký, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh gặp anh Nguyễn Gia Q đề nghị đƣợc cầm cố xe mô tô biển số 36K5 – 057.38 vì B biết anh H đang cầm cố giấy chứng nhận xe mô tô trên cho anh Q nhƣng anh Q không đồng ý đồng thời anh Q đã gọi điện thoại báo cho anh H biết. Vì vậy, C đã điều khiển xe mô tô biển số 36K5 – 057.38 chở B bỏ chạy. Ngày 15/12/2016, C chở B qua Campuchia và bán xe mô tô biển số 36K5 – 057.38 cho một ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đƣợc 13.000.000 đồng chia nhau tiêu xài. Ngày 13/3/2017 anh Văn Đình H đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An trình báo về hành vi phạm tội của B. Ngày 08/8/2017 anh H phát hiện B tại quán cà phê ở địa bàn quận 12, thành phố Hồ Chí Minh nên đã báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An biết. Ngày 08/8/2017 Võ Văn B bị bắt tạm giam cho đến nay.

Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38, hiện không thu hồi đƣợc. Tại kết luận định giá số 59/BB.ĐG ngày 31/3/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An xác định: xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38, số máy G3D4E094758, số khung 0610FY083749, có giá trị thực tế là 36.000.000 đồng. Ngƣời bị hại anh Văn Đình H yêu cầu bị cáo Võ Văn B bồi thƣờng số tiền nêu trên.

Qua nhận dạng của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng và kết quả truy xét; ngày 15/8/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã ra quyết định khởi tố điều tra đối với Võ Văn B về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhƣ đã nêu trên.

Đối với tên C hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 298/QĐ - KSĐT ngày 17 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đã truy tố Võ Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với ngƣời bị hại và xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn B mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tƣ pháp khác: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 tuyên buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng trị giá xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38 cho anh Văn Đình H theo trị giá đã đƣợc Hội đồng định giá thị xã Dĩ An xác định là 36.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận định giá số 59/BB.ĐG ngày 31/3/2017 của Hôi đồng định giá thị xã Dĩ An. Tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận. Trƣớc khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà bị cáo Võ Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An. Bị cáo khai nhận, khoảng 16 giờ 45 phút ngày 13 tháng 12 năm 2016, tại số nhà 522/31/18 Quốc lộ 1K, khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo đƣợc anh Văn Đình H cho mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38 để bị cáo đi mua thuốc uống. Sau khi đƣợc giao xe bị cáo đã cùng với tên C (hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch) mang đi cầm cố nhƣng không đƣợc nên đã mang qua Campuchia bán cho một ngƣời đàn ông (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đƣợc 13.000.000 đồng chia nhau tiêu xài hết.

Hành vi lợi dụng sự tin tƣởng của ngƣời bị hại để chiếm đoạt xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38 có trị giá 36.000.000 đồng của bị cáo vào ngày 13/12/2016 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự. Tại Điểm a Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó….;”.

Nhƣ vậy, Cáo trạng số 289/QĐ -KSĐT ngày 17 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Võ Văn B là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, song hành vi phạm tội của bịcáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thƣờng pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, làm ảnh hƣởng đến phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội ở địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt:Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Trƣớc khi phạm tội bị cáo là ngƣời lao động, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen đỏ, biển số 36K5 – 057.38 của anh Văn Đình H hiện không thu hồi đƣợc. Anh Văn Đình H yêu cầu bị cáo bồi thƣờng theo kết quả định giá, bị cáo thống nhất, không có ý kiến gì. Vì vậy, buộc bị cáo Võ Văn B có trách nhiệm bồi thƣờng cho anh H số tiền 36.000.000đồng.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo Võ Văn B cũng nhƣ trách nhiệm bồi thƣờng dân sự là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo Võ Văn B phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm và nộp án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn B phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 140; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Võ Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2017.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Võ Văn B phải bồi thƣờng cho anh Văn Đình H số tiền 36.000.000 (Ba mƣơi sáu triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chƣa thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Võ Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 1.800.000 (một triệu tám trăm ngàn) đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ