vanban.org

Bản án 98/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quân Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 492 ngày 02/12/2022); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quân Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quân Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST
Ngày: 18-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo

Ông Hà Văn Tr

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2023/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Quân Tr, sinh ngày 20/10/2003 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; HKTT: Không đăng ký; Chỗ ở: Phòng trọ hẻm A đường P, Phường H, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Quốc H (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 24/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 24/11/2022, tại trước nhà số 1104 đường A, phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Công an phường A, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Quân Tr có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine), đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án.

Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an phường A, thành phố Vũng Tàu đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quân Tr khai nhận: khoảng 1 tuần trước khi bị bắt quả tang, Nguyễn Quân Tr xuống khu vực cảng Cát Lở tại hẻm 1007 đường A, Phường B, thành phố Vũng Tàu chơi game bắn cá, Tr có gặp một người phụ nữ tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi Tr nếu mua ma túy thì gọi điện cho T qua số điện thoại 0943053530. Khoảng 20 giờ 30 ngày 24/11/2022, khi Tr đang đứng tại Công viên C, Phường C, TP Vũng Tàu có người thanh niên tên N (sống gần nhà trọ của Tr) rủ góp tiền mua ma túy sử dụng, Tr đồng ý, N góp 150.000 đồng, Tr góp 50.000 đồng. Sau đó, Tr gọi điện thoại cho T (qua số điện thoại 0943053530) hỏi mua ma túy, T đồng ý hẹn Tr ra đường A, Phường B, thành phố Vũng Tàu (ngay Tr Tiểu học P) để nhận ma túy. Tr điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 67M1 - 83119 đến địa điểm trên gặp T mua ma túy. Sau khi có ma túy, Tr cất giấu ma túy trong gói thuốc chạy về để sử dụng cùng N. Khi Tr đi đến trước nhà số 1104 đường A, Phường B, thành phố Vũng Tàu thì bị Công an Phường B, thành phố Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai của Nguyễn Quân Tr phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Huỳnh Văn L và phù hợp với chứng cứ thu thập được.

Tại Kết luận giám định số 492/KL- KTHS-MT ngày 02/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, kết luận:

Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01(một) gói nylon, được niêm phong vào 01 phong bì màu trắng dán kín phía trên có hình dấu của Công an Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bên trong có 01 gói nylon hàn kín, chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, gửi đến giám định có khối lượng 0,4060 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, qua giám định có khối lượng 0,4060 gam là ma túy, loại Methamphetamine;

- 01 điện thoại di động Iphone 5S, màu trắng, số Imeil 1: 352000065677894;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONĐA VISION; Màu sơn: Xanh đen; Biển số 67M1 - 831.19; Số máy: JK03E5248984; Số khung: RLHJK0317MZ042749.

Xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONĐA VISION; Màu sơn: Xanh đen; Biển số 67M1 - 831.19; Số máy: JK03E5248984; Số khung: RLHJK0317MZ042749, Qua xác minh, xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn L, (Sinh năm 1997; Nơi thường trú: Tổ 1, TV, VT, Thoại Sơn, An Giang) là anh rể của Tr. Anh L làm nghề đi biển nên giao xe cho Tr sử dụng làm phương tiện đi lại, anh không biết việc Tr sử dụng xe máy của anh đi mua ma túy sử dụng. Do vậy, ngày 14/02/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe cho anh Nguyễn Văn L.

Các vật chứng còn lại được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 16/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; tịch thu sung công quỹ điện thoại di động Iphone 5S, màu trắng, số Imeil 1: 352000065677894.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 24/11/2022, tại trước nhà số 1104 đường A, phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Công an phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Quân Tr có hành vi tàng trữ trái phép 0,4060 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tr tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có nhận thức đầy đủ, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 492 ngày 02/12/2022) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S, màu trắng, số Imeil 1: 352000065677894 bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng N là người góp tiền mua ma túy để sử dụng cùng với Tr, qua xác minh tên Ông Văn L (sinh năm: 1993, Nơi thường trú: ấp A, xã B, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, chỗ ở: phòng trọ hẻm 7/30 đường A, phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) hiện nay không có mặt tại địa phương và đối tượng tên T có số điện thoại 0943053530 là người bán ma túy cho Tr, qua xác minh tên Nguyễn Thị G (Sinh năm: 1990; địa chỉ: 1367/5 đường A , phường C, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vũng Tàu đã tiến hành xác minh tại địa chỉ trên không có người nào tên G thực tế sinh sống. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vũng Tàu đã ra thông báo truy tìm, tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý các đối tượng trên theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quân Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quân Tr: 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2022.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 492 ngày 02/12/2022);

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S, màu trắng, số Imeil 1: 352000065677894.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 140/BB-CCTHADS ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Quân Tr phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ