vanban.org

Bản án 98/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 02/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Đắc T ph m tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.

X ph t: bị cáo Phùng Đắc T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị bắt 04/7/2023. Không áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối với bị cáo. Về lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình s ; điểm a khoản 2 của Điều 106 của Bộ luật Tố tụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy Phg Đc Tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Đắc T ph m tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình s; Điều 47 Bộ luật Hình s; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình s
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST
Ngày 02-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Đình Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Giang và bà Đinh Thanh Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Vũ Huy Long và ông Vương Hải N - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023, t i trụ s T a án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh t sơ th m công khai vụ án hình s sơ th m thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra t

số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Phùng Đắc T, sinh ngày 27/4/1983, t i C, Hải Dương; nơi cư trú: khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động t do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Đắc T1 và bà Nguyễn Thị N1; vợ là Đặng Thị N2 (đã ly hôn) và 02 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; tiền s : không; tiền án: ngày 29/10/2021 bị T a án nhân dân quận C m Lệ, thành phố Đà Nẵng ph t 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”. Chấp hành ong hình ph t tù ngày 24/9/2022. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/7/2023, hiện t m giam t i Nhà t m giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: người chứng kiến Đoàn Biên Giới vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phùng Đắc T làm nghề lái xe ô tô khách tuyến M - Đà Nẵng. Ngày 01/7/2023, T được một người b n tên là Ú (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện tho i nói có ma túy “đá” bán. Do có nhu cầu s dụng ma túy nên T đồng ý mua và hẹn gặp Ú t i khu v c cầu B thuộc thành phố V, tỉnh Nghệ An để giao dịch. Cùng ngày, T điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 14F - 001.14 đi đến điểm hẹn gặp và mua của Ú 01 túi ma tuý “đá” với giá 4.500.000 đồng. Sau khi mua, T cất giấu túi ma tuý vào trong túi quần phía trước bên phải để s dụng dần. Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 04/7/2023, T điều khiển e ô tô đến đỗ t i bến xe khách M, thuộc khu E, phường K, thành phố M, rồi đi bộ ra cổng bến xe, thì bị Tổ công tác của Công an phường K phối hợp với Công an phường H và Đồn biên phòng H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T: 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu VIVO.

T i bản Kết luận giám định số 995/KL-KTHS ngày 10/7/2023, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Phùng Đắc T là ma tuý, lo i Methamphetamine, khối lượng 3,115g (ba ph y một một năm gam).

Quá trình điều tra, Phùng Đắc T khai nhận hành vi ph m tội như đã nêu.

Với nội dung trên, t i bản Cáo tr ng số 93/CT-VKSMC ngày 10/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phùng Đắc T về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s .

T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo tr ng, đề nghị Hội đồng xét x áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình s ; ph t: bị cáo Phùng Đắc T từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 04/7/2023.

Về hình ph t bổ sung: không áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối với bị cáo, do bị cáo thu nhập không ổn định.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình s ; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình s :

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 3,06gam ma túy Methamphetamine hoàn l i sau giám định.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện tho i di động nhãn hiệu VIVO màu màu vàng, bên trong gắn 01 sim số 0363160267.

T i phiên tòa, bị cáo Phùng Đắc T đã thừa nhận hành vi ph m tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố là đúng. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi ph m tội của mình và đề nghị Hội đồng t

giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình s . Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và t i phiên t a, bị cáo không có ý kiến, không khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố đối với bị cáo: t i phiên t a bị cáo Phùng Đắc T khai báo thành kh n về hành vi ph m tội của mình, lời khai của bị cáo t i phiên t a phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án: như biên bản bắt người ph m tội quả tang, kết luận giám định và các tài tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, được th m tra và công bố công khai t i phiên t a có đủ cơ s ác định: Phùng Đắc T làm nghề lái e, do có nhu cầu s dụng ma túy, ngày 01/07/2023 T hẹn gặp người đàn ông tên Ú t i khu v c cầu B thuộc thành phố V, tỉnh Nghệ An để của mua Ú 01 túi ma tuý “đá” với giá 4.500.000 đồng. Sau khi mua, T cất giấu túi ma tuý vào trong túi quần phía trước bên phải để s dụng dần. Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 04/7/2023, T điều khiển e ô tô đến đỗ t i bến e khách M, thuộc khu E, phường K, thành phố M, rồi đi bộ ra cổng bến e, thì bị Tổ công tác của Công an phường K phối hợp với Công an phường H và Đồn biên phòng H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của Phùng Đắc T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” quy định t i Điều 249 của Bộ luật Hình s như kết luận của đ i diện Viện kiểm sát t i phiên t a là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình ph t: khi bị bắt quả tang, l c lượng Công an thu giữ trong túi quần b của bị cáo 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. T i Kết luận giám định số 995 ngày 10/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận chất tinh thể màu trắng g i giám định là ma túy lo i Methamphetamine, tổng khối lượng 3,115gam do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình s với tình tiết định khung hình ph t là “...Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s .

Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, đã tr c tiếp âm ph m chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, là nguyên nhân chính làm phát sinh các tệ n n ã hội, ảnh hư ng đến tình hình an ninh trật t địa phương. Bị cáo là người đủ năng l c trách nhiệm hình s , nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái ph p chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn th c hiện, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Nên cần đưa bị cáo ra t nghiêm và dành cho bị cáo mức án tương ứng với hành vi ph m tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, ngăn chặn và ph ng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s : ngày 29/10/2021 bị cáo bị T a án nhân dân quận C m Lệ, thành phố Đà Nẵng ph t 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”. Bị cáo chấp hành ong hình ph t tù ngày 24/9/2022, như vậy đến ngày 04/7/2023 thời điểm ph m tội lần này, bị cáo chưa được óa án tích, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s “Tái ph m” quy định t i điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình s .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s : quá trình điều tra, truy tố và t i phiên t a, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s theo quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình s .

Về hình ph t chính: từ các phân tích nêu trên, Hội đồng t

t thấy, cần thiết ấn định mức hình ph t trong khung hình ph t đã truy tố đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi ã hội một thời gian để cải t o, giáo dục bị cáo tr thành công dân tốt, như đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát t i phiên t a là có cơ s chấp nhận.

Về hình ph t bổ sung: t thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về lý vật chứng:

- 01 (một) phong bì đ ng mẫu vật là chất ma túy Methamphetamine hoàn l i sau giám định được niêm phong theo đúng quy định. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu VIVO màu vàng, bên trong gắn 01 sim số 0363.160.267 là tài sản thuộc s hữu của bị cáo, bị cáo s dụng vào việc ph m tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, liên quan trong vụ án có đối tượng tên Ú bán ma túy cho T, quá trình điều tra không ác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để lý.

Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo phải chịu án phí hình s sơ th m và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Đắc T ph m tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình s .

X ph t: bị cáo Phùng Đắc T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị bắt 04/7/2023. Không áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối với bị cáo.

2. Về lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình s ; điểm a khoản 2 của Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình s .

- Tịch thu, tiêu hủy 3,06gam ma túy Methamphetamine hoàn l i sau giám định đ ng trong một phong bì được niêm phong theo đúng quy định. Mặt trước phong bì ghi “Công an tỉnh Q - Phòng K số 995/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn l i theo Kết luận giám định số 995/KL-KTHS ngày 10/7/2023”.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện tho i di động nhãn hiêu VIVO, màu vàng, số Imei 1: 867582062709877, số Imei 2: 867582062709869, bên trong gắn 01 sim số 0363.160.267. Điện tho i đã qua s dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 05/2024/THA, ngày 11/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình s ; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Phùng Đắc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình s sơ th m.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình s , bị cáo có mặt t i phiên t a có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ