vanban.org

Bản án 98/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Về xử lý vật chứng: Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bịcáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Dũng - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hìnhsự; Điều 106 Bộ luật tốtụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST
Ngày31/ 8/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân:1.Ông Cao Kim Hoàn

2. BàVũ Thị Lan Hương

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa:Bà Nông Thị Thuỳ-Thư ký Tòa án nhân dânthành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Thế Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày31tháng8 năm 2023tại Nhà văn hóa tổ A, phường N, thành phố L.Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đưa ra xét xử lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/HSST ngày08tháng8 năm 2023theo Quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử số85/2023/QĐXXST-HS ngày16/8/2023đối với bị cáo:

Họ và tên:Nguyễn Tấn D(tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam.

Sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005 tại huyện V, tỉnh Lào Cai;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Tày;

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ học vấn: 09/12.

Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984. Cả 2 trú tại: Thôn P, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáochưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Nguyễn Tấn Dlà người thường xuyên sử dụng chất ma túy

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 16/6/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.Có mặttại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo:Ông Nguyễn Xuân T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T1, tỉnh Lào Cai. Có mặttại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/6/2023, Nguyễn Tấn Dđang ở khu vực đầu cầu K, phường K, thành phố Lthì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Nguyễn Tấn Dđi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến khu vực ven đường quốclộ 4D, cạnh cổng chào đường vào nhà máy T2, thuộc thôn L, xã C, thành phố Lvà mua 01 gói ma túy được gói bằng giấy với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Tấn Dcầm gói ma túy và đi xe ôm về khu vực đầu cầu K, phường K, thành phố L. Nguyễn Tấn Dđi bộ đến đường M thuộc tổ A, phường K, thành phố Lthì bị tổ công tác của Đội cảnhsát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Lphát hiện bắt quả tang. Khi nhìn thấy tổ công tác, Nguyễn Tấn Dđã thả 01 gói giấy từ lòng bàn tay phải xuống đất. Dưới sự chứng kiến của anhPhí M, Nguyễn Tấn Dđã tự giác nhặt 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục giao nộp cho tổcông tác và khai nhận là H2.

Tại kếtluận giám định về ma túy số 222 ngày 20/6/2023 của Phòng KCông an tỉnh Lđã kết luận: 0,13 gam chất bột khô màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine

Tại bản cáotrạng số87/CT-VKS ngày07/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Dvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hìnhsự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Dvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:Áp dụngđiểm c khoản 1 Điều 249; điểms khoản 1Điều 51;Điều 38 Bộ luật hìnhsự.Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Dtừ 1nămđến 1 năm6 thángtù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hìnhsự; Điểm a khoản 2Điều 106 Bộ luật tốtụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gamHeroinecòn lại sau trích mẫu giám định,cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong theo quy định. Tuyênán phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn Dtrình bày: Viện kiểm sát nhân dân thành phố truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Dvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hìnhsự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Nguyễn Tấn Dlà người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhsự, xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng, bản thân nghiện chất ma tuý vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tộiđối với bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều travà các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên ngày16/6/2023, bị cáo tàng trữ0,13gam Hêrôinmục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổcông tác Công an thành phố Lphát hiện bắt quả tang.Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Dovậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Caitruy tố bị cáo Nguyễn Tấn Dra trước Tòa án nhân dân thành phố Lào Caivề tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”theo điểm c khoản 1 Điều 249Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo có nhân thân xấu,là người thường xuyên sử dụng chất ma túy. Vì vậy, cần phải xét xử mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình.Vì vậy,cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhsự. [5]Về hình phạt bổ sung:Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà, bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, khôngcó tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. [6]Về vật chứng của vụ án:Tịch thu tiêu hủy 0,08gam Heroinecòn lại sau trích mẫu giám định, cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong theo quy định. [7] Những vấn đề liên quan trong vụ án:Đối với người đàn ông lái xe ôm và người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 16/6/2023 tại khu vực thủy điện C, xã C, thành phố L. Do bị cáo không biết tên, tuổi của những người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật. [8]Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên, bị cáođều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận. [9]Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1Điều 51Bộ luật hìnhsự.Tuyên bố bị cáoNguyễn Tấn Dphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn D01(một) nămtù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/6/2023.

2.Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hìnhsự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tốtụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,08gam Heroinecòn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong theo quy định của Phòng KCông an tỉnh L, trên một mặt bìniêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụNguyễn Tấn Dngày 16/6/2023tạitổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai”. (Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2023giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lbàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai). 3.VÒ ¸n phÝ:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Dphải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bịcáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều2 Luật thihành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a và 9 Luật thihành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thihành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lào Cai;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Lào Cai;

- VKSND TP;

- CA TP 02;

- Cơ quan thi hành án hình sự CALào Cai;

- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Minh Đức

- Thi hành án 02;

- PV 06 CA tỉnh;

- Lưu HS; VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Kim Minh Vũ Thị LHƣơngNguyễn Thị Minh Đ

Cỡ chữ