vanban.org

Bản án 98/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/01/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST
Ngày 25– 4 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ BẮC NINH

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Trung và ông Nguyễn Văn Cường.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân T phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố B tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân T phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1980.

HKTT: thôn Thiên Đức, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Chỗ ở: Số 1308 chung cư Cát Tường Eco, phường V, T phố B, tỉnh Bắc Ninh

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức Th, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Thả, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1981; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 413/2012/HSST ngày 21/12/2012 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, T phố Hà Nội xử phạt T 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 18 tháng tù về tội “Đưa hối lộ”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc T phải chấp hành hình phạt 50 tháng tù. Đã chấp hành xong bản án, ra trại ngày 8/9/2015.

- Quyết định số 42/QĐ-TA ngày 29/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, T phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Đã chấp hành xong quyết định ngày 10/1/2019.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/1/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an T phố B, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/01/2023, Nguyễn Đức T, sinh năm 1980; HKTT: thôn Thiên Đức, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh đang đứng tại khu vực sảnh tòa CT1 chung cư Cát Tường Eco, khu Khả Lễ, phường V, T phố B, tỉnh Bắc Ninh thì có Hoàng Văn Tu, sinh năm 1989, HKTT: Thôn Làng Gia, xã Đồng Tiến, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đi đến và hỏi T “Có ma túy heroine bán không, bán cho 200.000 đồng”. T trả lời “Có”. Tuân đưa cho T 200.000 đồng. T nhận tiền, đút vào túi quần bên phải phía trước T đang mặc và đưa lại cho Tuân 01 gói nhỏ bọc giấy màu trắng. Tuân nhận và cầm ở tay phải. Đúng lúc này, tổ công tác Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an T phố B đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng

* Vật chứng thu giữ của Hoàng Văn Tu: 01 gói bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng tại tay phải của Tuân (ký hiệu M1).

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức T: 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (ký hiệu M2).

Ngày 12/1/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại phòng 1308 CT1, chung cư Cát Tường Eco, phường V, T phố B, tỉnh Bắc Ninhnhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 13/1/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói được bọc bằng giấy màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu M1 có khối lượng 0,0837 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine

- 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng bên trong phong bì thư niêm phong ký hiệu M2 là tiền thật

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 64/CT-VKSTPBN ngày 10 tháng 04 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân T phố B truy tố Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố B giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T từ 28 tháng đến 32 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 12/1/2023 tại khu vực sảnh tòa CT1, chung cư Cát Tường Eco, khu Khả Lễ, phường V, T phố B, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Đức T có hành vi bán trái phép 0,0837 gam ma tuý loại Heroine cho Hoàng Văn Tu với số tiền 200.000 đồng để kiếm lợi nhuận. Cáo trạng truy tố số 64/CT-VKSNDTPBN ngày 10/04/2023 đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý huỷ hoại sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T khẩn khai báo ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Đưa hối lộ” nhưng vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo nhận thức, thấy được tác hại của ma tuý nhưng vì mục đích hám lợi nên bị cáo đã bất chấp pháp luật bán một lượng chất ma túy để kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, coi thường pháp luật nên để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã T khẩn khai báo nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo có được do hành vi thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho T nhưng T không biết tên, tuổi cụ thể và không nhận dạng được. Do vậy cơ quan điều tra Công an T phố B chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Hoàng Văn Tu đã mua số ma tuý của T để sử dụng nhưng khối lượng chất ma tuý chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố B đã tiến hành điều tra xác minh địa phương không có công dân có thông tin như trên nên Cơ quan điều tra Công an T phố B chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/01/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 11/4/2023 giữa Công an T phố B với Chi cục thi hành án dân sự T phố B).

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ