vanban.org

Bản án 98/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Xử phạt bị cáo Vì Văn N 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt, ngày 18/5/2023. 3/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST
Ngày: 12- 9- 2023

N DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN N DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm N dân: 1/ Ông Nguyễn Nam Giang;

2/ Ông Lò Văn Yêu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng – Thư ký Tòa án N dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2023, Tại trụ sở, Toà án N dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2023/TLST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vì Văn N; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/01/1993; tại huyện T, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: bản K, xã M huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn Đ và bà Hoàng Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/5/2023, đến ngày 27/5/2023 được chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên cho đến nay. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 18/5/2023, Vì Văn N, sinh năm 1993, trú tại bản K, xã M, huyện T đi bộ từ nơi N đến làm thuê ở xã P, huyện Tân Uyên xuống bản N, xã P, huyện Than Uyên để tìm mua Heroin sử dụng. Tại bản N, xã P huyện Than Uyên, N gặp và hỏi mua được 01 gói Heroin được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 50.000 đồng. Mua được gói Heroin, N lấy một ít sử dụng bằng hình thức chích tại chỗ, phần còn lại gói như cũ cho vào một vỏ gói thuốc lào màu xanh, trắng có chữ “CỐNG VUA” và cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc. Sau đó, Vì Văn N đi bộ lên bản M, xã P, huyện Tân Uyên để tiếp tục đi làm thuê. Hồi 19 giờ cùng ngày, N đi đến bản M xã P, huyện Tân Uyên thì bị phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật.

Gói chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Vì Văn N có khối lượng là 0,18g (Không phẩy mười tám gam), cơ quan điều tra đã trích hết làm mẫu vật gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 579/KL-KTHS, ngày 22/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận " Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin). Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định".

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu là hoàn toàn đúng.

Bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-TU, ngày 30/8/2023 của Viện Kiểm sát N dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vì Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo từ giai đoạn điều tra đến tại phiên tòa hôm nay đủ khẳng định quyết định truy tố là đúng cần giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, tịch thu tiêu hủy mảnh nilon và vỏ bao thuốc lào đã được niêm phong.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo thừa nhận là đúng với hành vi phạm tội của mình, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới; Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, nhất trí với luận tội, không có ý kiến tranh luận; Bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm

2

sát N dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng của vụ án, bản kết luận giám định số: 579/KL-KTHS, ngày 22/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ kết luận: Hồi 19 giờ ngày 18/5/2023, tại bản bản M, xã P, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Vì Văn N đang cất giấu trên người 01 gói Heroin có khối lượng 0,18 gam được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng đựng trong một vỏ gói thuốc lào màu xanh, trắng có chữ “CỐNG VUA” mà bị cáo khai nhận vừa mua được, đã sử dụng một ít, số còn lại để sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ.

Hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân không có mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất chính là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước ta; Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe; bị cáo biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Vì Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội cần chấp nhận; Cụ thể điều luật quy định:

“Khoản 1: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroine ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi tội phạm: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroin của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; tính chất và mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra tuy đơn giản, chưa gây hậu quả lớn cho xã hội, nhưng đây là loại tội phạm về ma túy đang được cả thế giới quan tâm và loại trừ; Đảng và Nhà nước ta cũng có nhiều chính sách nghiêm trị loại tội phạm này. Do vậy, cần đưa bị cáo đi tập trung cải tạo một thời gian theo Điều 38 bộ luật Hình sự mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa chung, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho công dân.

3

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên ở nơi có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc biệt khó khăn nên ảnh hưởng về nhận thức là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Về vật chứng: Số Heroin thu giữ của bị cáo đã gửi giám định hết, còn 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ thuốc lào màu xanh, trắng có chữ “CỐNG Vua” đã được niêm phong không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Về hình phạt bổ sung: Xét bản thân bị cáo làm nghề tự do, mục đích mua ma túy chỉ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân không có mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về nguồn gốc ma túy, theo bị cáo khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông, nhưng bị cáo không biết N thân, lai lịch cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét, xử lý người bán Heroin cho bị cáo là có căn cứ.

Về án phí: căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Quyết định 612/QĐ-UBDT, ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Quyết định 612/QĐ-UBDT, ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách các thôn bản đặc biệt khó khăn, vùng đồng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn năm 2021-2025.

4

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Xử phạt bị cáo Vì Văn N 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt, ngày 18/5/2023.

3/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

4/ Xử lý vật chứng: Tịch thu một phong bì đã được niêm phong (trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ thuốc lào màu xanh, trắng có chữ “CỐNG VUA” để tiêu hủy;

(Phong bì niêm phong hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/9/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

5/ Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn N.

6/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ